23/11/15

BÁC PHẠM HUY THÔNG

2. TÔI VẼ BÁC PHẠM HUY THÔNG

Tưởng cầm kỳ thi họa thong dong,
bỗng bát ngát Ô - giang hồn Hạng Tịch.
Đang Nam Bắc Đông Tây hò hẹn,
sao vội vàng tiên cảnh gót Lưu Lang!
(GS. Vũ Khiêu,
viếng GS. PHT, 6-1988)


ẢNH 3. Chân dung GS Phạm Huy Thông, vẽ năm 2000


Năm 2013, tôi tặng lại Viện, nhân Kỷ niệm 45 năm thành lập Viện Khảo cổ học tấm hình trên.
Nhớ lại năm tôi vẽ chân dung Bác Phạm Huy Thông, khi Bác đã đi xa 12 năm (6-1988 – 6-2000). Hồi ấy tôi đang là cộng tác viên cho Tạp chí Tia SángNăm đó Tạp chí có mở một mục mới, viết về chân dung các nhà khoa học. Tôi nhận sẽ có bài viết về GS.Phạm Huy Thông. Anh Văn Thành, phụ trách nội dung của Tòa soạn đồng ý.
Về nhà, tôi điện thoại tới Phó Giáo sư Cao Xuân Phổ đặt bài viết về Bác Thông. Tôi nói, em sẽ vẽ Bác Thông để minh họa bài viết của anh. Anh Phổ nhất trí. Đến hẹn nộp bài, trưa 31-5 tôi gọi điện tới anh Phổ, anh nói vừa đi thăm Ăngko Thom, Ăngko Vat về. Hỏi anh về bài viết, anh nói đã viết xong chỉ còn thiếu mấy dòng kết. Tôi liền đến ngay để nhận bài, đưa đánh vi tính. Dự định chiều sẽ dành 2 tiếng vẽ Bác Thông, kịp sáng 1-6-2000 nộp cho Tạp chí. Tính thì như vậy, nhưng khi vẽ, chỉnh sửa chỉ độ nửa giờ đã xong. Tôi không ngờ bức vẽ hoàn chỉnh lại nhanh như vậy so với nhiều chân dung khác đã vẽ.
Ngay chiều đó tôi đến nộp bài. Anh Thành nói, bài viết về Giáo sư Phạm Huy Thông kèm theo chân dung bạn vẽ đẹp quá sẽ đăng trong tháng này, mình đành để bài viết về cụ Hồ Đắc Di sang tháng sau. Tôi nói thêm, mong muốn của anh em mình là bài viết được in trong tháng 6, ý là tròn 12 năm ngày Bác Thông đi xa (6-1988 – 6-2000). Anh Thành “chiều” tôi và Tạp chí Tia Sáng số 6 năm 2000 ra mắt bạn đọc có bài viết này.
Cùng tháng đó, tôi lên phần mộ Bác Phạm Huy Thông tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội để trình bài viết và bức chân dung được in. Tôi thắp hương rồi “hóa”, như một bản “báo cáo” gửi Thủ trưởng. Nhân viên của Bác có nguyện ước từ lâu, nay sau 12 năm mới hoàn thành “đề tài”. Chắc Bác Thông sẽ mỉm cười độ lượng với anh em chúng tôi từ năm ấy!


ẢNH 4. Phần mộ GS Phạm Huy Thông tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Ảnh HV, 6-2000



ẢNH 5. Bài in trong Tạp chí Tia Sáng, tháng 6-2000

Láng Hạ, áp Tết Giáp Ngọ – 2014

* 

MỘT TẤM LÒNG NHÂN ÁI, MỘT NHÀ KHOA HỌC LỚN

CAO XUÂN PHỔ (*)

Một nhà khoa học lớn, một tâm hồn thơ ca bi hùng tráng, một cuộc đời trầm bổng. Có lẽ đó là những nhân tố đã hun đúc nên lòng nhân ái của Thầy Phạm Huy Thông.

Hồi đó là vào năm 1988. Mẹ tôi qua đời ở Hà Nội. Bấy giờ tôi đang công tác biệt phái ở Mông Cổ, không về chịu tang mẹ được. Thầy Thông là người đầu tiên đến viếng tang mẹ tôi. Qua điện thoại đường dài nhà tôi báo cho biết vậy. Tin tức đó thật làm cho tôi vô cùng xúc động. Vì thầy Thông bấy giờ là Viện trưởng Viện Khảo cổ học, không phải là Thủ trưởng trực tiếp của tôi mà là Thủ trưởng từ 20 năm trước khi tôi làm việc ở Tạp chí Khảo cổ học dưới quyền trực tiếp của Thầy và là Thầy dạy của tôi từ 30 năm trước ở Khoa Sử Trường Đại học Sư phạm. Cái tình Thầy trò nó sâu đậm là như vậy. Thông thường là học trò tới thăm Thầy – mà đạo lý là như vậy, chứ mà Thầy đến thăm hỏi học trò thì có phần hiếm. Và cũng chính Thầy là người đã hết lòng “can thiệp” với Sở Giáo dục Thái Nguyên cho vợ tôi sau 10 năm dạy tại Việt Bắc được về dạy ở Hà Nội để gần gũi gia đình vào năm 1970.
Mà đâu phải Thầy chỉ có “ưu ái” một mình tôi. Những ai làm việc dưới trướng Thầy đều nhận được lòng quan tâm thân ái của một người anh cả đối với đàn em. Mọi việc ma chay, cưới xin của mỗi chị em trong Viện Khảo cổ học dù ở xa mấy, lên tít Lục Ngạn, Bắc Giang hay vào tận Thanh Hóa, Nghệ An – Thầy không nề hà xa xôi mưa nắng đến tận nơi, với một tấm lòng chân thành chia sẻ nỗi buồn, niềm vui với gia đình, dù trong những chuyến đi đó có lúc xe ôtô gầm rú trượt bánh trong bùn lầy hoặc “nhầm đường” lăn bánh xuống suối! Chính cái tâm hồn nhân ái của Thầy có tác động như một chất keo gắn kết cán bộ nhân viên trong Viện Khảo cổ học thành một khối, đồng một lòng xây dựng Viện thành một cơ quan nghiên cứu có uy tín trong và ngoài nước.
Tôn trọng và luôn động viên những người đồng nghiệp và cán bộ nhân viên làm việc với mình thường hằng của Thầy Thông đối với các cộng sự của mình. Công cuộc nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương vào đầu những năm 70 do Giáo sư Phạm Huy Thông chủ trì và chỉ đạo là một biểu hiện sáng danh. Có lẽ không quá đáng khi nói rằng lâu lắm trên “khoa học đàn” Việt Nam thời sau Cách mạng mới có một cuộc tập hợp các nhà khoa học xã hội thuộc các ngành, các văn nghệ sĩ và cả những nhà khoa học tự nhiên đông đảo và hào hứng đến như thế. Bốn tập Hùng Vương dựng nước, xuất bản vào những năm 70…là những tiếng nói tâm đắc, những suy ngẫm khoa học ấp ủ từ lâu của cả một đội ngũ trí thức mong muốn góp sức mình vào sự nghiệp hưng danh văn hóa dân tộc, mà tiêu biểu là Giáo sư Phạm Huy Thông. Năm ngoái – 1999, trong một buổi trò chuyện vói một số trí thức người Việt ở Canberra (Úc) có người hỏi tôi với giọng hâm mộ “Thế Hùng Vương dựng nước không còn ra tiếp nữa à?...”.
Ở đây cũng xin nói thêm một ý tức của Thầy Thông về thời kỳ Hùng Vương. Hồi đó (1969-1973) tôi làm việc ở Tạp chí Khảo cổ học. Trong những bài Thầy viết về thời kỳ Hùng Vương, hầu như bao giờ cũng có một từ ngữ “tương ứng” với hai gạch dưới và mũi tên kéo ra ngoài lề chỉ đến chữ “chú ý” trong ngoặc kép (như, tương ứng với thời kỳ Hùng Vương trong dã sử, Khảo cổ học đã phát hiện được các Văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn…). Thái độ thận trọng trong khoa học đó, tôi đã học tập được rất nhiều trong thời kỳ làm Tạp chí Khảo cổ học, trong bài viết của mình và nhất là sau này (1987-1989) khi làm biên tập tạp chí tiếng Anh Buddhists for Peace ở Ulan Bator, Mông Cổ. Thận trọng với mình nhưng tôn trọng người khác. Trong lĩnh vực Tạp chí Khảo cổ học, Thầy quy định đại ý: bài của anh V, anh T, anh TC, anh C…gửi đến thì đăng nguyên văn không sửa chữa, còn những bài khác thì anh biên tập trước, tôi xem lại sau. Ấy, nhưng với những bài chính tay Thầy viết thì hầu như bao giờ Thầy cũng đưa tôi xem lại với những chỗ, những đoạn có ghi chú ngoài lề như “cách diễn đạt (?)”, “từ ngữ (?)”, “chú thích (!?)”…dạy bảo bằng chính hành vi của mình.
Phương châm sống của Thầy – như tôi nhận biết – và lời khuyên của Thầy với mọi anh em là luôn giữ bình tĩnh để ứng phó với mọi biến cố đầy rẫy trong cuộc sống, từ thân phận đến địa vị, bớt cay cúđể tìm hướng vươn lên. Cuộc đời Thầy không thiếu lúc lên bổng xuống trầm, song hầu như không bao giờ thấy Thầy lộ vẻ bực dọc, bất mãn, mà vẫn làm việc hết mình trong mọi thân phận. Tôi còn nhớ hồi đó, đầu những năm 70, sau khi tôi khai quật khảo cổ tháp Chương Sơn thời Lý ở Nam Hà và viết báo cáo hoàn chỉnh về di tích đó, Thầy động viên tôi viết thành sách để xuất bản. Đề cương được Thầy thông qua. Tôi bắt tay vào viết. Mới chừng được 50 trang thì Thầy gọi tôi đến khuyên, đại ý nên dừng lại vì tình thế ở cơ quan không có lợi cho anh nếu sách anh được xuất bản, dù anh có được chút tên tuổi. Thật chí tình!
Tháng 6 năm 1988, Thầy Thông đã ra khỏi cõi tục thế nhưng lòng nhân ái của Thầy vẫn in đậm mãi trong tâm trí tôi, và có lẽ ở cả nhiều người khác nữa.

Thanh Xuân, 5-2000



 (*) PGS Cao Xuân Phổ, đã tạ thế hồi 17 giờ 19 phút, ngày 20-10-2015, tức 8-9 Ất Mùi, tại Bệnh viện Hữu Nghị, Hà Nội. Hưởng dương 87 tuổi.
Ảnh HV, 10 -2015

***
6. ANH VŨ HOÀNG ĐỊCH KỂ CHUYỆN
 NHỮNG GIẤC MƠ



ẢNH 31. Hoàng Văn thăm anh chị Vũ Hoàng Địch. Ảnh TL, 2-2004.

Phó Giáo sư Vũ Hoàng Địch là tác giả bài thơ “Ba Đình nắng”, sáng tác năm 1948, sau đó được nhạc sĩ Bùi Công Kỳ phổ nhạc. Ca khúc Ba Đình nắng ngay từ khi ra đời - 1948, đã khẳng định chỗ đứng trong nền âm nhạc cách mạng Việt Nam. Ông không chịu nhận mình là Nhà thơ, nhưng tên ông được nhắc tới trong Tuyển tập “Thơ mới 1932 - 1945. Tác giả và tác phẩm”. Ông không còn làm thơ nữa, nhưng chỉ với một bài thơ được làm ca từ cho bài hát “Ba Đình nắng” cũng xứng danh một tài thơ. Sau này người ta biết ông là Phó Giáo sư Triết học hơn là Nhà thơ Vũ Hoàng Địch.


Trong 3 ngày, vào tuần đầu tháng 6 năm 2001, anh Vũ Hoàng Địch đã hai lần điện thoại cho tôi, nhắn lên chơi nói chuyện cho vui, nghe nhà tôi tiếp điện thoại anh nói lại như vậy. Mãi tới sáng 17- 6, tôi điện thoại hẹn sáng nay đến hầu chuyện anh.
... Đến nơi, chị Ngà đi chợ chưa về. Anh thân tình tiếp tôi, lấy các thứ kẹo lạc, vải thiều, cà phê, ... trong tủ lạnh ra hai anh em cùng thưởng thức. Anh nói, vải thiều đã trở thành đặc sản của Việt Nam từ vùng Yên Thế, trước thường dùng để tiến vua chúa đấy (!). Nay thì anh em mình được chén thoải mái. Vừa ăn tôi vừa hỏi chuyện anh.  
Tôi kể, vừa được đọc bài viết: “Gặp Vũ Hoàng Địch em nhà thơ Vũ Hoàng Chương”, được biết nhóm Dạ Đài ra mắt từ những năm 1945-1946, nay còn anh và có còn ai khác nữa? Như gợi lại kỷ niệm một thời, anh vui hẳn,  được dịp để kể về những người bạn cũ. Anh nói, còn,... còn một tay nữa hiện đang ở Thành phố Hồ Chí Minh - tên là Trần Mai Châu. Tay ấy hay lắm cậu ạ (anh xưng hô thân mật lúc chuyện trò cởi mở, lúc thì tớ mày, lúc cậu, ông). Anh kể, nghe nói hồi mới giải phóng năm 1975, nhà có một chiếc xe ôtô sang trọng đang chạy, chẳng hiểu lão ta nghĩ thế nào, mang xe đi một nơi khá xa... rồi vứt. Anh cười khà khà, có vẻ thích thú pha chút giễu cợt. Lão ta sợ mày ạ. Đời lạ thế đấy! (Ảnh hai nhà thơ của nhóm Dạ Đài. Báo Văn Nghệ, số 35,36 (1-9-2012), tr. 34. Huỳnh Như Phong: "Trần Mai Châu và giấc mộng Dạ Đài").  


Rồi anh lại chuyển sang chuyện nhóm Dạ Đài, tớ nói để cậu biết nhé. Rất tiếc là nhóm Dạ Đài bị tan sớm chỉ ra được số đầu. Số thứ 2 thì dừng. Nếu được ra tiếp sẽ có một bài viết rất hay choảng lại nhà thơ X. Số tiếp ra chắc tên tuổi nhà thơ X. không có được tên tuổi như ngày nay đâu.
Tôi không ngờ từ một bài báo vừa đọc, đến để kể anh biết, lại được nghe nhiều chuyện như vậy. Bỗng nhớ ra điều gì đó, anh vội vào trong phòng lấy ra cuốn Từ điển của Pháp, anh nói cuốn này mới xuất bản ở Paris, chưa có trong nước. Tớ phải nhờ người mua từ Pháp mang về. Anh mở cho tôi xem mục viết về Vũ Hoàng Chương. Đây, anh chỉ vào vài dòng viết về Vũ Hoàng Chương. Chỉ vài dòng thôi, đã làm cho Vũ Hoàng Chương sống mãi với thời gian rồi! Có cả Trần Đức Thảo, Trần Dần, ... không thấy nhắc tới Huy Thông, riêng Nguyễn Tuân lại không có. Anh nói vậy.
Nói qua với cậu mấy chuyện linh tinh một tí, nay tớ kể cho cậu nghe chuyện về những giấc mơ mấy đêm trước. Chẳng hiểu thế nào, mơ hay là mình suy nghĩ lẩm cẩm rồi.

1. Giấc mơ thứ nhất - TỒN TẠI (đề do HV đặt)

Đầu đuôi chẳng hiểu tại sao mình lại đứng giữa một thung lũng, xung quanh núi bao bọc - Có hai trái núi gần mình, rất to, to ghê gớm. Tôi nói xen vào, có giống Núi Đôi của Vũ Cao không? Anh nói, còn to hơn thế. Cậu biết thế nào không? Tớ nhìn thấy rõ tất cả các khe nứt của hai quả núi đang toang hoác ra, trông rất khiếp, chỉ trong tích tắc sẽ lìa khỏi điểm tựa, đổ xụp xuống đầu mình. Và tớ nghĩ – thế là đời đi đứt rồi!... Hình như sức lực mình lúc đó không còn một    chút gì để nhấc nổi đôi chân thoát hẳn nơi nguy hiểm này. Đành chịu chết một cách bi đát vậy. Rồi cậu biết thế nào không? ..., tớ mở mắt nhìn lại lần cuối để vĩnh biệt thế gian này (!), thì lại thấy hai trái núi nguy hiểm kia tự nhiên nhỏ dần, nhỏ dần..., và biến mất. Tớ lại thấy mình đang đứng trước một thung lũng đầy cỏ non xanh mướt trong nắng sớm. Kỳ lạ không và, thế là tôi vẫn tồn tại trên cõi đời này ông ạ. Đời lạ lắm cậu ơi.

2. Giấc mơ thứ hai - Ở TRÊN ĐỈNH NÚI

Chẳng hiểu bằng cách gì, tự nhiên thấy mình đã leo tới đỉnh núi cao vút. Không rõ bằng cách nào mà leo lên được, với sức già gần 80 tuổi này, lại đang đứng trên đỉnh núi này. Và tớ nghĩ ngay, đi xuống là một chặng đường mệt mỏi lắm đây. Đang nghĩ mung lung,... rồi tự nhiên lại thấy mình đứng dưới chân núi, tựa người vào một gốc cây cổ thụ. Nhìn vào tay mình, thấy đang cầm một đồng EURO vàng chóe mắt.
Khi tỉnh hẳn, thì thấy tay mình đang nắm mảnh chiếu rách cạnh giường. Rõ chán! Anh cười vui và nói, chuyện mộng mị, mơ màng, chẳng hiểu ra làm sao cả. Tôi bèn nói, đấy là tư duy của những triết gia: có - không, không - có, đấy cụ ạ!

3. Giấc mơ thứ ba - KHÔNG TIN

Giấc mơ thứ ba cũng không thể ngờ. Chuyện diễn ra như thế này. Mình thì gần gũi với nhiều giáo sư về văn hóa, xã hội, cả với nhà thơ Trần Dần và một số bạn bè cùng thời. Nhưng trong giấc mơ này, người mà mình ít nhớ tới thì lại hiện lên rất rõ nét từng đặc điểm khuôn mặt và cả cái nhếch mép - cười khẩy. Ông có biết đó là ai không? Em chịu. Anh nói ngay, đó là họa sĩ Phan Kế An. Tự nhiên vụ án Vũ Xuân Trường, buôn hêrôin lại hiện về. Mình biết Vũ Xuân Trường đưa đi xử bắn ở Cầu Ngà từ lâu. Tưởng mộng mị thế thôi, không ngờ lúc đó Phan Kế An xuất hiện trong giấc mơ. Thường mình mơ chỉ hay gặp Vũ Khiêu, Trần Dần. Không hiểu sao, giấc mơ này lại gặp Phan Kế An, với khuôn mặt hiện rõ đến thế. Hắn nhếch mép cười và nói: Ông tin thật à. Tin là Vũ Xuân Trường bị xử bắn à? Hắn ta lại nói tiếp, cho dù có động tác lăn tay trước khi hành quyết, tớ nhìn rõ động tác lắc đầu của Phan Kế An, hắn nói,… không tin (!).
Những giấc mơ mấy ngày qua của tớ có lạ không?
... Chợt có tiếng gõ cửa, anh đứng dậy ra mở cửa, khách là một nữ trung niên. Anh giới thiệu với tôi, đây là cháu gái mình - Phó Tiến sĩ Sinh vật, biết tin cậu ốm đến thăm. Tôi nhìn người phụ nữ ấy và, gật đầu chào!
Chuyện trò cũng đã lâu, đến lúc cần kết thúc. Tôi đứng dậy xin phép ra về. Tôi nói, dự kiến đến thăm anh chị ít phút rồi kéo anh đi RTC Nguyễn Cao. Anh cảm ơn và nói rằng, mình bây giờ không chén được. Đang phải uống thuốc – kiêng.
Khi tiễn tôi ra cửa anh lại hỏi, cậu có biết ông Phấn(1) không? Phấn làm ở thư viện Viện Thông tin Khoa học Xã hội của mình đấy. Mình thấy thương ông ấy quá. Nghĩ lại hồi ông ấy mất, tớ có đến viếng, thấy một ông phòng Hành chính, học không hết lớp 4 đọc điếu văn. Buồn quá! Đáng lẽ phải là ông Viện trưởng hoặc Viện phó chứ? Ai lại làm như vậy.
Anh lại nói, nhờ cậu nói hộ với các ông phụ trách KHXH, không phải vì chúng tôi không có tiền ăn Tết, mà mỗi lần Tết đến các ông KHXH gửi cho 100.000đ. Cái chính là cái tình ăn ở với nhau khi còn sống. Gần chục năm trời tớ nghỉ hưu có lãnh đạo nào đến thăm mình đâu. Tôi nói, em cũng nghỉ như anh rồi, có khác gì anh. Tớ biết cậu có thể nói được, rồi anh cười khà khà.... Đời hay lắm ông ạ, anh nói.

Tôi nắm tay anh tạm biệt ra về mà đầu óc mụ mị, vui thì ít, buồn thì nhiều!..Chợt nhớ tới hai câu thơ anh đọc cho tôi nghe năm nào:
... Ta còn để lại gì không / Kìa non đá lở, này sông cát bồi”. Ta - người. Núi sông, đá lở,… cát bồi, chẳng biết có vận vào anh những giấc mơ ấy không?

Những câu chuyện tôi được nghe anh Vũ Hoàng Địch kể lại về những giấc mơ ngày đó, thấm thoát đã trôi qua 8 năm. Nay anh đã đi xa thật rồi. Sự ra đi lặng lẽ đến không ngờ. Anh ra đi để lại nỗi bàng hoàng, thương tiếc vô hạn cho chị Ngà, các con cháu cùng bạn hữu và các đồng nghiệp. Còn nhớ những năm trước khi nghỉ công tác quản lý Viện, anh thường đi lại thăm anh em chúng tôi, chia sẻ và động viên gắng sức làm việc và còn căn dặn phải say sưa với công việc và anh nói rằng, khi tuổi già đến thì không có thể nói trước được điều gì đâu... (!).

Lại nhớ cách đây vài tháng, có một bài báo viết với tựa đề: “Tám văn sĩ chung một bài thơ ngắn”, nói là tám vị đó đều thuộc loại tiếng tăm trong giới bút nghiên đi vãn cảnh Hồ Tây. “…Về khuya, cuộc rượu đã tàn, ánh trăng đã nhạt. Trước khi chia tay họ đã nảy ra sáng kiến là làm chung một bài thơ để kỷ niệm cuộc hội ngộ kỳ thú này. Vì có 8 người, để mỗi vị chỉ làm một câu, thể thơ được chọn là đường luật – thất ngôn bát cú…, người khai bút đầu tiên:

1. Vũ Hoàng Địch: Đen đỏ đường đời đã đảo điên
2. Vũ Hoàng Chương: Chợ chiều chật chội chớ chen chân
3. Lê Văn Trương: Trong trắng trung trinh trèo trầy trật
4. Vũ Đình Liên:         Lá lay lươn lẹo lại leo lên
5. Trần Thanh Mại:    Mơ mộng mộng mơ mờ mịt mãi
6. Phạm Huy Thông: Thiết tha tha thiết thiệt thòi thêm
7. Nguyễn Vỹ:          Vội vã về vườn ve vãn vợ
8. Đoàn Phú Tứ:      Tích tịch tình tang tớ túng tiền

Bài báo viết tiếp. "... Tính đến nay bài thơ đã ở tuổi suýt soát “thất tuần thượng thọ” và tám vị đồng tác giả kia đều đã trở thành người thiên cổ(2)…”
Đọc đến đó tôi liền gọi đến Tòa soạn báo để đính chính rằng, anh Vũ Hoàng Địch tác giả ca từ Ba Đình nắng vẫn còn tồn tại, chưa thành người thiên cổ đâu. Đồng thời điện thoại tới anh để nói lại có chuyện trên. Anh nghe điện thoại và hỏi ai viết, báo nào? Rồi anh lại cười khà khà. Thôi, cứ coi mình như người thiên cổ cũng được ông ạ. Có gì lạ đâu.

Nay,… anh đã trở thành người thiên cổ thật rồi! Anh ra đi đột ngột, lặng lẽ vào hồi 13h45, ngày 30-3-2009 tức 5-3 Kỷ Sửu. Hưởng thọ 86 tuổi.
Thương tiếc anh nhiều!
                                                                                               
 Láng Hạ, 1-4-2009, 2014


(1) Cụ Nguyễn Trọng Phấn trước là cán bộ của Viện Viễn đông Bác cổ. Làm việc cùng với cụ Trần Văn Giáp. Sau này chuyển về Viện Thông tin KHXH. Cụ Phấn được kết nạp vào Đảng CSVN trong thời gian chống Pháp (HV).
(2) Xem Hoàng Bình Trọng: Tám văn sĩ chung một bài thơ. Báo Văn Nghệ Công An, số 85 (185), 4-8-2008.
(*) Phó Giáo sư Vũ Hoàng Địch, nguyên Phó Viện trưởng Viện Châu Á và Thái Bình Dương, thuộc UBKHXH Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

***






21/11/15

BÁC TĂNG

10. BIẾT MỘT NGƯỜI, TRONG MUÔN NGƯỜI

1. NGƯỜI THẤP, NHỎ…, ĐEO KÍNH CẬN



ẢNH 36. Nguyễn Thế Tăng và Hoàng Văn thăm Vịnh Hạ Long.
Ảnh TL, 9-1998

Tôi biết anh, khi anh về Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam cùng đợt với các anh: Đỗ Văn Ninh, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Duy Chiếm,... vào năm 1966-1967(?). Anh học ngành Sử, Trường Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc thường gọi tắt là Trường Bắc Đại.
Từ năm 1965, đế quốc Mỹ đưa máy bay ra ném bom đánh phá miền Bắc nước ta, nhằm hạn chế sự chi viện của nhân dân miền Bắc cho đồng bào miền Nam ruột thịt chống Mỹ, cứu nước. Ác liệt nhất từ năm 1966 trở đi.
Thời gian đó, Thành phố Hà Nội có chủ trương sơ tán triệt để các cơ quan của Trung ương đóng trên địa bàn Thành phố, ngay cả những cơ quan thuộc Hà Nội cũng vậy. Các đơn vị thuộc Uỷ ban KHXH Việt Nam lúc ấy cũng không nằm ngoài chủ trương trên. Các xã Thường Thắng, Xuân Hòa, Mai Trung, Kè Thường... thuộc huyện Hiệp Hòa - Hà Bắc, được chọn làm địa điểm sơ tán cho các đơn vị trong Uỷ ban: Khảo cổ, Dân tộc, Văn phòng Ủy ban, Sử, Kinh tế,...Những ngày đầu đến nơi sơ tán, làm chuyên môn thì ít mà anh chị em chúng tôi thường phải tham gia các công việc khác: đào hầm, học cứu thương, tập tự vệ và đi ... chợ Bầu.
Tại nơi sơ tán, có những đợt học tập quân sự tại đồi Thông hoặc sơ kết công tác cơ quan, anh chị em đều có mặt đầy đủ. Những dịp đó chúng tôi thường tổ chức những buổi văn nghệ hát hò, bóng bàn, đá bóng để mọi người tham gia vui chơi giải trí. Khảo cổ và Sử là đơn vị đầu tiên tổ chức bóng đá tại sân vận động của xã Xuân Hòa. Buổi đấu giao hữu được cổ vũ nhiệt tình của anh chị em cơ quan, có cả hai nữ y tá Văn phòng: Mai Hoa, Ngọc Toàn cũng được cử đến để chăm sóc cho các cầu thủ. Đông nhất vẫn là các cháu thiếu nhi và thanh niên của xã đến cổ vũ cho hai đội bóng “Trung ương”.
Tôi còn nhớ, trước giờ hai đội vào sân, có nghe người bên mình nói - nhớ phải kèm chặt “cái tay” - Người thấp, nhỏ... đeo kính cận. Tay ấy đá hay lắm. Đã đá ở Đội tuyển Sinh viên Việt Nam học tại Bắc Đại. Người nói, vừa nói vừa chỉ tay hướng tới người ấy. Tôi nghe xong, gật đầu và nói sẽ có cách. Một thông tin rất hay!
Vì sân nhỏ nên mỗi đội chỉ đá 7 người. Bên Khảo cổ giữ gôn: Lân Cường; hậu vệ: Nguyễn Thành Trai, Hà Nguyên Điểm...; tiền đạo: Cao Xuân Phổ, Hoàng Văn Dư, Nguyễn Văn Kự. Tôi có nhắc anh Thành Trai và Hà Nguyên Điểm kèm chặt “cái tay” đeo kính cận ấy. Ba chúng tôi đã hiểu, cần phải làm gì.
Trong hai hiệp đấu, bên tôi anh Cao Xuân Phổ rơi kính cận nhiều lần vì mải tranh bóng với đối phương, phải lọ mọ đi tìm kính. Còn bên Sử “cái tay” đeo kính cận ấy, có phải nhặt kính lần nào không thì chẳng biết. Bên tôi có “Lăn Kềnh” - Lân Cường, cũng trổ tài mấy lần bay người bắt bóng, được hoan hô nhiệt liệt. Không rõ những cú sút của đội bạn mà Lân Cường phải bay người, có phải “cái tay” đeo kính cận sút không?
Chợt nghĩ, đeo kính cận mà đá bóng chỉ cần rơi kính thì ... vứt đi rồi. Có để bóng trước mũi giày, đá chưa chắc trúng bóng, huống chi lại đá vào gôn, nếu có đá vào chỉ là hú họa. Kết thúc trận giao hữu giữa hai đội Khảo cổ và Sử, hình như... không có tỷ số. Mọi người ra về vui vẻ.
Sau trận đá giao hữu ấy, tôi mới biết “cái tay” “Người thấp, nhỏ, ... đeo kính cận” tên anh là Tăng - Nguyễn Thế Tăng.

2. GHI CHÚ VỀ BÁC TĂNG

Cách đây mấy tháng, tên Bác Tăng được tôi nhắc tới trong một truyện ngắn: Nhớ về cội nguồn, nhân ngày Giỗ tổ Hùng Vương, 10-3 Mậu Tý, tức ngày 15-4-2008. Tôi viết cho cháu nội dịp vào thăm gia đình con trai tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Trích:
“... Cách nay, có đến trên 20 năm. Ông cho bố cháu đi thăm Đền Hùng - Phú Thọ cùng với các bác trong cơ quan. Chặng đường từ Hà Nội đến Đền
Hùng gần 100 km. Năm đó, bố cháu mới hơn 10 tuổi học lớp 3 (?). Đưa Đoàn đến Đền Hùng, nghỉ một chút, ông tìm người hướng dẫn, thuyết minh cho Đoàn đi từ đền Hạ, đền Trung, đến đền Thượng. Vì có công việc đột xuất ông không đi cùng với Đoàn. Ông nhờ Bác Tăng kèm, trông nom bố cháu. Buổi thăm viếng Đền Hùng kết thúc. Bác Tăng gặp ông, kể lại: “Con ông chạy nhảy ghê quá! Tí nữa lao đầu xuống chân đồi, may mà tôi còn kịp tóm được cái cổ áo giữ lại, không thì...”. Nghe Bác Tăng kể lại. Ông hết hồn. Nhìn bố cháu,... suýt ông cho “ăn” một cái “ bợp tai”. Tuổi con trẻ, hiếu động mà”.
(Trích HV: Tập truyện “Ông kể chuyện này...” ,
viết tại Tp. Hồ Chí Minh, ngày 15-4-2008).

Phần cuối bài viết, tôi có ghi chú hơi dài về Bác Tăng: Trước học ở Trung Quốc, ngành Sử - Đại học Bắc Kinh. Về nước được phân công về Viện Sử học, mấy năm sau chuyển về Viện Đông Nam Á. Rồi theo yêu cầu của Tổ chức, chuyển lên Vụ Tổ chức - cán bộ, thuộc Ủy ban KHXH Việt Nam. Một thời gian ngắn thì chuyển về Viện Châu Á và Thái Bình Dương, rồi Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc. Làm Phó Giám đốc rồi Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc nay là Viện Nghiên cứu Trung Quốc, thuộc Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam.
Bác Tăng mất năm 2000.

Kể từ ngày biết anh - “Người thấp, nhỏ... đeo kính cận” khi cùng đá bóng với nhau ở Hiệp Hòa - Hà Bắc, sau những năm sơ tán lại trở về Hà Nội, mỗi người một việc, một nghề. Và, như một nhân duyên tôi lại được gặp anh, bắt tay anh khi anh chuyển về Viện Châu Á và Thái Bình Dương sau này là Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc. Từ đó tôi và anh trở thành đồng nghiệp cùng cơ quan. Tính đến ngày anh đi xa chúng tôi gần nhau, gắn bó cũng 15 năm có lẻ.
Mọi chuyện vui, buồn của tôi và anh đều có thể viết thành những truyện ngắn: Chụp ảnh giữa Quảng trường Thiên An Môn; Đưa anh đi mua hàng thùng (second-hand); Xây nhà trong túi chưa có tiền; Lỡ một Hợp đồng tài trợ, v.v...
Năm nay, tháng này, ngồi ghi lại những kỷ niệm về anh, lại nhớ lần Giáo sư Vũ Khiêu đến dự Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc (3/2/1999), Giáo sư Vũ Khiêu có Mừng Trung tâm một câu đối để chia vui với thành tích của Trung tâm, của nguyên Giám đốc Nguyễn Huy Qúycũng như chúc mừng, khích lệ tân Giám đốc Nguyễn Thế Tăng.
 Câu đối như sau:
THÀNH TÍCH NĂM NĂM XEM ĐÃ QUÝ
CÔNG TRÌNH CHÍN CHÍN HẲN CÀNG TĂNG (*)

Nhớ anh! Thế là đã hơn 40 năm kể từ khi tôi biết tên anh. Và, cũng đã hơn 8 năm ly biệt. Cầu mong anh được an bình trong giấc mộng ngàn thu!
Anh ra đi ngày ấy, 4-4-2000, tức 30-2 Canh Thìn, khi sự nghiệp, ước vọng đang trên đường thênh thang rộng mở. Thật tiếc thay!

Láng Hạ, vào Thu năm 2008
(Bài in trong sách NGUYỄN THẾ TĂNG:
MỘT CHẶNG ĐƯỜNG NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC.
 Nhà xuất bản KHXH. Hà Nội, 2008)


(*) Hiện tôi còn lưu bản viết tay của Giáo sư Vũ Khiêu ngày đó. Nhưng khi phát biểu tại Hội trường – xem lại băng ghi hình, Giáo sư Vũ Khiêu nói vế sau là: “ĐỀ TÀI chín chín hẳn càng TĂNG”. Do vậy, tác giả bài viết này sử dụng bản viết tay của Giáo sư Vũ Khiêu, vế sau: Công trình chín chín hẳn càng TĂNG  (HV, 2014).


***




NHÀ BÁO HỮU THỌ

9. “CÃI” LẠI “NGƯỜI HAY CÃI(*)



ẢNH 34. Nhà báo Hữu Thọ và Hoàng Văn. Ảnh HN, 2-2004

Ông cũng là người nổi tiếng trong làng báo chí cách mạng Việt Nam. Nhất là trong thời kỳ Đổi mới, sau Đại hội VI của Đảng. Tên tuổi Nhà báo Hữu Thọ dần dần có chỗ đứng trong nhiều bạn đọc của báo Nhân Dân và một số báo, tạp chí trong nước.
Đường vào nghề của ông chẳng “thuận chèo mát mái” như nhiều đồng nghiệp khác. Đôi khi người giúp Nhà báo Hữu Thọ vào nghề có lúc nản…, khi đọc những bài viết đầu tay của ông. Chính sự “nhạy cảm” biết mình khó theo được nghề viết này, nhưng với lòng tự trọng và yêu nghề mà ông đã vượt lên. Qua thời gian tự rèn luyện, học tập mà dần dần ông có vị trí chuyên môn vững vàng. Vững vàng không phải ở vị trí này, cương vị nọ mà chính bởi cách lý giải một số vấn đề mà ông đã tạo cho bạn đọc có ấn tượng riêng với những câu chuyện cùng văn phong bình dân của Nhà báo Hữu Thọ ở mục “CHUYỆN LÀM ĂN” đăng từng kỳ báo Nhân Dân năm 1986, 1987.
Ông bước vào nghề ở tuổi 25, độ tuổi có nhiều thuận lợi. Những nếp cũ dễ bị gạt bỏ và những ảnh hưởng mới được ông tiếp nhận. Bởi vậy mà Nhà báo Hữu Thọ đã trưởng thành, có vị trí xứng đáng trong làng báo chí cách mạng Việt Nam.
Tôi không được may mắn đọc những bài viết đầu tay ông viết. Sau này vì công việc phải nắm bắt thông tin, khai thác tư liệu ở các báo và đọc kỹ những bài ông viết trên báo ở thập niên 80. Quả thật, một số mảng tư liệu trên báo, thấy ông đã có đất để “dụng võ” như trên “mặt trận” kinh tế; lối sống; tác phong của những người được lãnh đạo,...
Thế mới biết "mảnh đất" để đi sâu nắm bắt cho các nhà báo còn nhiều khoảng trống, còn nhiều đất để “dụng võ”. Chính Nhà báo Hữu Thọ đã nhìn thấy khoảng trống đó, tự thay đổi cách viết, đi sâu vào mảnh đất mà nhiều người tưởng như đã biết và, đôi khi là khô cằn. Ấy vậy từ mảnh đất đó ông có cách “luận” riêng cho từng vụ việc. Từ đó, các bài viết của ông ngày càng gây được sự chú ý cho bạn đọc đang tìm hiểu cách tiếp cận xã hội trong buổi đầu đổi mới. Không ít người có những kết quả thành công trong sự nghiệp vươn lên của mình khi đọc những bài viết ở mục “CHUYỆN LÀM ĂN”, mà ông đang chuyên tâm khai thác đề tài này. Ông có nhiều thu hoạch và đã thành công trong sự nghiệp của mình.
Tôi có đôi lần xem, nghe Nhà báo Hữu Thọ trao đổi với bạn xem truyền hình – mục NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI. Có một số ý mà tôi thấy thú vị qua những câu chuyện ông đã kể,...
Sách “Người hay cãi” của Nhà báo Hữu Thọ cũng được nêu trong buổi trao đổi hôm đó. Ông nói đại ý: “Mình hay cãi nhiều người, có khi là bạn bè, đồng nghiệp và cả cấp trên! Ấy vậy mà khi mình “được” làm lãnh đạo lại không muốn có người “cãi” lại mình. Thế mới biết cái “hay cãi” chưa phải đã thuận lợi cho công việc. Và rồi ông có ý nhắc nhở người làm báo, phải cãi lúc nào, cãi ra sao để cấp trên, đồng nghiệp nghe mình “cãi” được thấu tình đạt lý và, đôi khi “cãi lại” phải chờ thời …!”.

Thế mới hiểu nghề báo khó biết chừng nào (!?).
Câu chuyện mà Nhà báo Hữu Thọ trao đổi với bạn xem truyền hình hôm đó còn đọng lại trong tôi, đôi lúc làm tôi suy nghĩ nhiều!
Gần đây, tôi được đọc bài trả lời phỏng vấn của ông trên báo “An ninh thế giới Cuối tháng”, 10-2003, số 26, tr.16", do Nguyễn Lê Chương thực hiện. Nhà báo Hữu Thọ nói:
“Sự trung thực là một phẩm chất quan trọng trong tính cách của người Việt NamBài trả lời phỏng vấn trên toát lên nhiều ý: về truyền thống đạo lý; tình nghĩa; rèn luyện tính kỷ luật và nhấn mạnh xã hội phải tạo điều kiện cho con người có khả năng tư duy và sáng tạo. Ông khẳng định: “Trong bất cứ hoàn cảnh nào, sự trung thực của con người Việt cũng là phẩm chất quan trọng trong nhân cách; vấn đề là phải tạo điều kiện cho đức tính đó được phát huy”. Nếu muốn bổ sung ý của mình, tôi chỉ xin thêm hai chữ “dũng cảm” mà thôi. Người viết bài này mong sẽ có dịp được trao đổi với ông về hai từ “dũng cảm”.
Trở lại bài trả lời phỏng vấn trên. Trong đoạn 2 phần trả lời, ông có nói: “... Dân tộc ta bị đô hộ 12 thế kỷ, trải qua hơn chục cuộc chiến tranh chống ngoại xâm”.
Tôi gạch dưới “Dân tộc ta bị đô hộ 12 thế kỷ”, và nảy ý định phải “cãi lại” ông ở chỗ - 12 thế kỷ.
Và,... tôi trực tiếp trao đổi với Nhà báo Hữu Thọ qua điện thoại một cách thẳng thắn. (Thời gian này ông đang là Trợ lý cho Tổng Bí thư NĐM).
... Máy điện thoại Văn phòng đổ chuông. Nhận ra tiếng anh. Tôi nói, xin chào Nhà báo Hữu Thọ, em là Hoàng Văn Dư, “quân” của Giáo sư Phạm Huy Thông, đàn em của anh Văn Trọng và anh Vũ Hoàng Địch đây.
- Ồ,... xin chào bạn, có gì đấy Dư ơi, nhà báo Hữu Thọ nói.
- Em có đọc bài anh trả lời phỏng vấn trên báo ANTG Cuối tháng... Xin được hỏi anh: "Anh tính từ thời điểm nào – năm, để nói “Dân tộc ta bị đô hộ 12 thế kỷ...” ? ".
- Nhà sử học thông cảm, mình chỉ nói khoảng hoặc gần mà thôi, nhà báo Hữu Thọ nói.
- Vâng, nếu anh nói khoảng hoặc gần, em không “dám” điện hỏi anh. Bởi em đọc một tư liệu, có người viết: “Dân tộc ta bị đô hộ 1.147 năm”, tức 11 thế kỷ và một trăm, bốn bảy năm. Tức hơn 11 thế kỷ.
- Từ từ để mình lấy bút ghi đã. Đọc lại cho mình đi Dư ơi.
- Thưa anh, 1.147 năm.
- Của ai đấy Dư?
- Thưa anh, đấy là tư liệu của Nhà báo Hoàng Tùng, tôi nói.
- Ồ…, cụ ấy thì tính chi ly và chính xác lắm đấy! Tên tài liệu đó là gì hả Dư?
- Em chắc anh đọc rồi, lâu ngày quên. (Đọc sách Hoàng Tùng: Từ tư duy truyền thống đến tư tưởng Hồ Chí Minh. Nxb CTQG. Hà Nội, 1998, tr. 14).
- Lúc nào chuyển cho mình xem nhé! Bài mình trả lời trên báo như thế có được không?
- Tất nhiên là phải hay họ mới đăng chứ anh. Xin hẹn anh, lúc nào có điều kiện anh em mình gặp nhau để trao đổi cụ thể hơn. Em chào anh! Chào Dư...

(*) HỮU THỌ: Người hay cãi. Nxb Sự thật. Hà Nội, 1991; Nxb Thanh Niên. Hà Nội, 1999.
 Bài viết xong tháng 10-2003, tới 9-2004 tôi đưa anh đọc. Chưa đọc hết bài, anh nói: cậu đặt cái tít "hóm" ra phết . Cả hai anh em cùng cười !...

*

Được tin anh đã ra đi quá đột ngột! (7 giờ 40 phút, ngày 13-8-2015).
Mới hôm nào còn thấy anh đi dự khai mạc Triển lãm báo chí, dự Đại hội X Hội Nhà báo Việt Nam. Tôi điện thoại thăm anh, anh còn nói: "... Mình là trong số 4 lão làng của báo chí còn lại - Hà Đăng, Phan Quang, Đỗ Phượng...".
Tôi dự định, sáng Chủ nhật, 16-8-2015 sẽ đến thăm anh, tặng sách mà tôi vừa in xong; anh là một trong số gần 20 người đọc bản thảo. Còn nhớ, ngày anh đang đọc bản thảo,  gặp lại anh, anh còn nói, mình rất thích đọc loại sách viết kiểu này. (Xem trang 202, Tập I. Sách Gia đình và những người trong tôi). Thế rồi,... một buổi sáng ngỡ ngàng, tôi không thể nào tin nổi!


ẢNH 35. Tang lễ  Nhà báo Hữu Thọ.
Bắt đầu từ  7 giờ 30 đến  9 giờ 30, ngày 14-8-2015. Ảnh HV, 8-2015

Láng Hạ, 10-2003, 10-2015
***


DỊCH GIẢ TRẦN THƯ

7. DỊCH GIẢ TRẦN THƯ



ẢNH 32. Dịch giả Trần Thư  và Hoàng Văn. Ảnh QHL, 7-2003


Dịch giả Trần Thư, tên khai sinh là Nguyễn Văn Cung, sau này có bút danh - Trấn Thủ trong các ấn phẩm dịch thuật văn học.
Từ một cán bộ cao cấp trong quân đội – Thiếu tá Quân đội nhân dân Việt Nam, thì một tai họa ập xuống vào đúng ngày 24-12-1967. Bảy năm sau anh mới trở về với gia đình (!).
Những tưởng, sau bao năm đằng đẵng xa nhà khi trở về thì vợ con, gia đình mừng vui biết chừng nào. Nhưng ai ngờ được, sự có mặt của anh lại làm cho vợ và cả chính anh nghẹn lòng. Gia đình …tan tác. Không biết chia sẻ cùng ai. Anh lặng lẽ chấp nhận sự phũ phàng, xót xa này.
Như anh viết: “Tôi là kẻ bại trận, và ngồi trước tôi cũng là kẻ bại trận còn ê chề hơn đang cầu xin tôi tha thứ. Thôi thì những kẻ cùng khổ hãy thương lấy nhau chứ còn biết làm thế nào. Tôi ngậm ngùi nói: Thôi em ạ, đừng khóc nữa, cơn ác mộng đã qua rồi. Ta làm lại từ đầu!...”

Năm 1974, anh “được” làm một thường dân. Vốn sẵn có ngoại ngữ (đã học Tú tài Trường Bưởi – Chu Văn An, năm 1944), rồi tự học thêm một ngoại ngữ tiếng Nga. Anh tìm đến những tác phẩm văn học để dịch, nuôi bản thân và gây dựng lại gia đình.
Anh đã dịch các tác phẩm văn học: Vàng, Xa Mạc Tư Khoa, Làn sóng thứ chín, Paris sụp đổ, Đất vỡ hoang, Con Bim trắng tai đen, Điện Biên Phủ - Một góc địa ngục. Phần lớn tác phẩm văn học dịch lấy bút danh - TRẤN THỦ, giấu biến họ tên: TRẦN THƯ.
Tôi không may mắn được đọc hết các tác phẩm anh dịch. Chỉ đến đầu năm 1999 mới đọc anh qua tập Hồi ký đầu tay: MỘT NGƯỜI TÙ XỬ LÝ NỘI BỘ. Anh hoàn thành vào cuối năm 1998. Sau mấy lần chỉnh sửa, bổ sung và lấy tên mới là Truyện ANH CẢ CÒ, tổng cộng 112 trang khổ A4. Anh tặng tôi, ghi ngày 23- 8-2003. Ký, Trần Thư.
Mấy năm sau tôi gần anh hơn và cùng chia sẻ nhiều chuyện. Gặp anh trước một tuần ngày anh ra đi, anh có nói với tôi: “Nghe Hoàng Văn, mình đã giải tỏa hết mọi thứ rồi!...”. Sau đó, đúng như câu thơ cuối mà ông Trưởng họ Nguyễn Thọ nói trong lời tiễn biệt ông em họ - Trần Thư.

“... Quên thù giải oán, tâm thanh thản
Để tình thân ái lúc thành tro!”

*

DỊCH GIẢ TRẦN THƯ, SINH NGÀY 3-3-1926.
MẤT NGÀY 29-4-2006, TỨC 2-4 BÍNH TUẤT.
HƯỞNG THỌ 81 TUỔI.

Năm 18 tuổi, đang học Tú tài Trường Bưởi - Chu Văn An, năm 1944, theo tiếng gọi của Tổ quốc, anh đã xếp bút nghiên lên đường tranh đấu. Người thanh niên ấy tham gia hoạt động bí mật trong đoàn Thanh niên Cứu quốc, in truyền đơn, áp phích tuyên truyền cho cách mạng và là một trong những người đầu tiên làm báo Hồn Nước ở ngay chính ngôi nhà 15 Hàng Phèn của bố mẹ mình. Sau đó, theo phân công của tổ chức, anh trốn nhà thoát ly đi hoạt động cách mạng.
Tháng 8-1945 tham gia chính quyền cách mạng tại Thành phố Hà Nội, sau gia nhập QĐND Việt Nam. Năm 1947 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Làm cán bộ chính trị, từng giữ chức vụ Phó Chính ủy Trung đoàn 42 Trung Dũng. Trưởng ban Tuyên huấn Quân khu Tả ngạn.
Làm báo, với trách nhiệm Trưởng Phòng Chính trị kiêm Tổng Thư ký Tòa soạn báo QĐND. Một thời gian được biệt phái sang Phụ trách Tiểu ban Quân sự bên báo Nhân Dân.
Sau này anh làm công tác xuất bản; viết sử trong quân đội cho đến ngày 24-12-1967 thì một tai họa ập đến. Năm 1974 anh mới trở về gia đình.

*

LỜI PHÁT BIỂU CỦA CỤ NGUYỄN THỌ,
 TRƯỞNG TỘC HỌ NGUYỄN
 (Lời cảm ơn và lời nói cuối cùng với chú em Trần Thư.
 Cụ Thọ nói vo. Tôi bật máy ghi).

          Kính thưa các cụ, các ông, các bà, bạn bè và họ hàng nội ngoại!
          Tôi Nguyễn Thọ, năm nay 86 tuổi, hai mắt đã kém lắm rồi. Không phân biệt rõ ai là ai, có mặt tại đây. Nhưng tôi biết rằng mọi người có mặt tại đây, đông lắm. Sáng nay bạn bè đến viếng chú em tôi đông lắm!...
Hôm nay, thời tiết nóng nực, ảnh hưởng đến những người cao tuổi, nhưng các bác, bạn bè, họ hàng và tất cả vẫn chờ đến giờ tiễn đưa chú em tôi. Gia đình chúng tôi vô cùng cảm động!
          Trước khi nói lời cảm ơn, xin phép các cụ, các ông, các bà cho tôi được nói mấy lời cuối cùng với chú em tôi.
Cung ơi! Trần Thư ơi!...
Anh biết rằng em còn nhiều mơ mộng, còn nhiều mong muốn, còn muốn được nhìn thấy sự thay da đổi thịt của đất nước và còn muốn được nhìn thấy nhiều sự thay đổi nữa, nhanh hơn nữa nhưng số phận đã cắt ngang.
          Việc em làm suốt cả đời cho gia đình, cho đất nước ai cũng đã rõ.
Khi em bị bệnh nặng, biết con gái đang chuẩn bị viết Bài điếu cho chính mình. Em có nói một câu giữa nhà: “Viết gì thì viết, đừng bốc thơm nhau nhé!”,  như lời dặn lại cuối cùng.
          Câu nói đó thực vô cùng quý báu. Một lời dặn cuối cùng đầy tính chất của một con người không muốn khoe khoang, một con người không vỗ ngực, một con người cũng khiêm nhường mà thôi!
Nhưng dẫu sao trong Lời điếu của con gái nó viết, nó đã để hết tâm huyết vào đấy, viết để nhờ các bác có ý kiến giúp. Thế nào cũng còn có chỗ chưa đạt được ý muốn của cha chú, chưa được đúng như lời dặn của chú thì chú hãy tha cho con, thông cảm với con, nó cũng đau xót lắm. Nó cũng là một nạn nhân kế tiếp chú. Cho nên nó viết như vậy không có gì sai trái, trách móc nó. Chú hãy tha cho con!
Chú là một người, suốt cả đời dành thời gian cho sự nghiệp văn chương, tôi cũng có đôi vần văn chương để tiễn chú:

Thẳng thắn thơ ngây chú Cả Cò (1)
Thanh xuân theo Đảng chẳng đắn đo
Dốc lòng cách mạng say “Hồn Nước” (2)
Đưa cả tiểu đoàn vượt sông to (3)
Trở về nghiệp báo thêm tên tuổi
Ập đến tai bay vạ khổng lồ

Bỗng dưng đằng đẵng nơi biệt lập
Nắm(4) nỗi dày vò mất tự do.

Hồi cư dựng lại ngôi nhà nhỏ
Sự nghiệp văn chương lại nổi to
Khoan dung độ lượng, trang hồi ký
Tính cách nhân văn cụ Cả Cò
Quên thù giải oán, tâm thanh thản
Để tình thân ái lúc thành tro!

Được không chú? Thế thôi!
Ra đi cho mát mẻ, dòng đời có hạn. Được như vậy, phấn đấu như vậy, chú hãy thanh thản ra đi!
          Ông Tư, bà Tư!..., cô Mai – vợ chú đấy, cô Nhung kia kìa. Chú Hỷ về đón cả đấy. Hãy đi cho nhẹ nhàng thanh thản. Chú về với tiên tổ!...

Kính thưa các cụ, các ông, các bà và bạn bè thân hữu!
Tôi xin thay mặt cả họ hàng nhà tôi, đa tạ, đa tạ. Mọi người đã nể tình đến đây ứng xử thế này:
TÌNH ĐẤY, NGƯỜI ĐÂY, LUỐNG ĐOẠN TRƯỜNG.
          Đa tạ. Đa tạ!

(Ghi: 13 giờ 55 phút, ngày 3-5-2006, tại
Nhà Tang lễ 127 Phùng Hưng, Hà Nội)

*

Anh Trần Thư, để lại cho tôi nhiều ấn tượng về cuộc đời trầm bổng, sóng gió. Sâu đậm nhất là về gia đình. Anh đã mất mát quá nhiều. Tôi cứ nghĩ, ngày anh trở về sẽ gây dựng lại cơ ngơi đàng hoàng, nhưng anh càng gắng sức, chăm lo cho gia đình bao nhiêu thì lại “tan... đàn” đến xót lòng. Âu cũng là số mệnh của một con người. Mệnh trời ư ?!

Láng Hạ, 5-2006, 2014

Ghi chú:
(1) “Anh Cả Cò”: Đầu đề tập Hồi ký của Trần Thư, là tên gọi lúc còn nhỏ.
(2) Hồn Nước: báo Hồn Nước.
(3) Vượt sông to: Chỉ huy Tiểu đoàn vượt sông Luộc hai lần trong đội hình Trung đoàn vượt sông cùng hàng nghìn dân đi theo để tránh địch khủng bố.
(4) “Nắm” là nắm tay, giữ lại,… hay “ lắm” là nhiều nỗi dày vò…(?). Bản chữ viết nắn nót của Cụ Nguyễn Thọ không lẽ lại viết sai chính tả. Hay có ý khác (HV).
(*) Cụ Nguyễn Thọ, cựu Đại tá QĐND Việt Nam. Mất ngày 29-11-2013, tức ngày 27-10 Quý Tỵ. Hưởng thọ 93 tuổi.


***