Cha tôi - ông Phan Khôi
TTCT-Cha
tôi là nhà báo - nhà văn Phan Khôi. Ông sinh ngày 6-10-1887 tại làng
Bảo An, huyện Điện Bàn (Quảng Nam) và mất tại Hà Nội ngày 16-1-1959, thọ
72 tuổi.
"Rồi đây những góc khuất trong cuộc
đời cha tôi sẽ được trở ra ánh sáng. Những gì mà một thời người ta viết
về ông, làm cho con người và văn nghiệp của ông bị xô lệch, méo mó đi sẽ
được nhìn nhận lại một cách khách quan và công bằng hơn"
Thứ hai ngày 18 tháng 3 năm 2013 6:56 AM
Hồi đó, phương
tiện liên lạc chưa hiện đại như bây giờ nên mãi gần một ngày sau tôi
mới nhận được tin. Tôi lẽo đẽo cuốc bộ từ Trường Học sinh miền Nam số 24
ở Hải Phòng, nơi tôi đang theo học, tới Trường Học sinh miền Nam số 6
cách đó hơn một cây số để báo tin cho em gái. Hai anh em tôi leo lên một
chiếc xe con màu đen, chẳng biết hiệu gì, chỉ nhớ nó thấp lè tè, dè nhô
ra. Ngồi trên xe, em tôi nghĩ gì không biết, chỉ nghe tiếng thút thít,
thỉnh thoảng lại nấc lên. Còn tôi có lẽ vì là con trai và nhiều tuổi
hơn, vả lại điều mất mát vừa xảy ra cho gia đình tôi tuy quá lớn nhưng
không hẳn là bất ngờ nên tôi chỉ âm thầm chịu đựng và chua xót. Chua xót
cho thân phận một con người, cho cuộc đời đầy sóng gió của cha tôi.
Những câu đối dâng cha
Lúc bấy giờ, không
hiểu sao mọi suy nghĩ của tôi cứ đổ dồn về cuộc đời hơn bốn mươi năm bôn
ba làm báo, viết văn của ông. Thật ra cho tới lúc ấy, tôi chưa biết gì
nhiều về đời tư của cha ngoài tính nghiêm khắc mà mẹ và các anh chị tôi
thường kể, bởi tuy đã 19 tuổi nhưng tôi chỉ sống với ông chưa đến bốn
năm, mà mỗi năm cha con chỉ gặp nhau chừng nửa tháng vào mỗi dịp hè hoặc
tết.
Hoạt động báo chí
của ông, tôi cũng mới biết qua mấy bài báo ông viết trước cách mạng mà
mỗi dịp hè tôi được đọc từ bản chép tay do ông sao lại từ báo chí mượn ở
các thư viện lớn của Hà Nội. Đó là các bài: Dân quạ đình công, Tình
già, Một lối Thơ mới trình chánh giữa làng thơ, Chuyện bà cố tôi, Xóa
một cái án trong lịch sử: Thân oan cho Võ Hậu, Đọc cuốn Nho giáo của ông
Trần Trọng Kim...
Chỉ với chừng ấy
thôi, chưa phải nhiều nhặn gì so với hàng ngàn bài báo mà ông đã viết
nhưng trong tôi đã hình thành một nhận xét về cha, có vẻ như vượt quá
tuổi tác và trình độ học vấn của tôi lúc ấy. Đó là cha tôi tuy xuất thân
Nho học nhưng tư tưởng rất mới, điều quan trọng hơn là ông đã dũng cảm
đấu tranh với bất kỳ ai, với bất kỳ thế lực nào để bảo vệ lẽ phải và
tiến bộ.
Vượt qua đoạn đường
dài hơn 100 cây số từ Hải Phòng về Hà Nội, rồi từ bến xe Long Biên về 73
phố Thuốc Bắc, nơi cha tôi trút hơi thở cuối cùng trong căn phòng chưa
đầy 10 mét vuông lúc nào cũng thiếu ánh sáng, nước mắt tôi trào ra,
không cách gì ngăn được. Câu đối đầu tiên của đời tôi, buồn thay lại là
câu đối khóc cha:
Lúc xã hội nhố nhăng, cúi chẳng cúi, luồn chẳng luồn, há chịu phép vú to lấp miệng
Khi văn chương nhập nhoạng, tranh ra tranh, cãi ra cãi, đâu đành lòng mũ nỉ che tai
Khi văn chương nhập nhoạng, tranh ra tranh, cãi ra cãi, đâu đành lòng mũ nỉ che tai
Hồi ấy, cuộc đấu
tranh chống Nhân văn - Giai phẩm mà cha tôi được coi là thủ lĩnh tuy đã
hầu tàn nhưng dư chấn của nó vẫn còn rất mạnh, có lẽ chẳng thua gì một
trận động đất mà cha tôi phải hứng chịu. Mọi lời nói hay luận bàn về ông
trở thành điều cấm kỵ. Vì vậy, tôi tuy rất ưng ý với câu đối viếng ông
mà mình vừa làm nhưng chẳng dám hé môi đọc cho ai nghe, kể cả với các
anh chị tôi.
Vào ngày Trùng Cửu
(9-9 âm lịch) năm Kỷ Mão (1999), tôi được một anh bạn đồng hương gửi
tặng cuốn "Bảo An - đất và người" của Nhà xuất bản Đà Nẵng, do tập thể
tác giả Phan Nam, Lương Ngọc Châu, Phan Văn Hường, Phan On biên soạn
cùng với sự cộng tác của nhiều người là con cháu tộc Phan - Bảo An đang
công tác ở mọi miền đất nước. Bên cạnh một số người thuộc hàng em hoặc
con ông được vinh danh như các nhà cách mạng Phan Thanh, Phan Bôi, Phan
Triêm, nhà báo Phan Thao; cuốn sách cũng đã dành một số trang giới thiệu
tiểu sử và văn nghiệp của cha tôi, xem ông là nhà văn, nhà thơ, nhà trí
thức lớn của quê hương mình. Đó là điều mà hơn bốn mươi năm về trước
những ai từng đọc các bài phê phán ông không thể ngờ tới.
Tôi nhận ra tên
tuổi, sự nghiệp cha tôi vẫn sống và sẽ còn ở lại lâu dài với quê hương,
sông núi, với họ hàng, con cháu dù đã nhiều năm người ta cố lờ đi như
ông chưa từng hiện diện trên đời. Tôi lại nhớ tới câu đối viết hồi ông
qua đời và thế là đúng bốn mươi năm sau, tôi lại có thêm một câu đối
khác cũng viết về ông. Lần này tôi viết bằng chữ Hán, với tâm trạng vui
hơn nhưng vẫn thắc thỏm lo không chắc sẽ được số đông chấp nhận. Câu đối
ấy như sau:
Phan công quyến tộc sơn hà tại
Việt quốc chương dân thế đại tồn
Việt quốc chương dân thế đại tồn
Dịch:
Cụ Phan gia quyến lưu sông núi
Non Việt dân văn tục vạn đời
Non Việt dân văn tục vạn đời
Viết xong, tự tôi
thấy còn non nớt, nhưng hai chữ Chương Dân, bút hiệu của cha tôi mà tôi
dịch là Dân Văn vào câu đối là hình dung của tôi về ông như một nông
phu, ngày đêm cặm cụi trên cánh đồng văn bút mà không chắc đã gặt hái
được gì bởi quyền năng đâu phải lúc nào cũng thuộc về ông.
Năm 2011 tôi 71
tuổi, ngấp nghé cái tuổi ông qua đời, tôi lại có thêm một câu đối khác
viết về ông. So với hồi năm 1959, lúc này tôi đã hiểu ông nhiều hơn vì
không chỉ được đọc sách của người khác viết về ông như Nhớ cha tôi: ông
Phan Khôi của Phan Thị Mỹ Khanh - chị gái tôi, Phan Khôi - tiếng Việt,
Báo chí và thơ mới của Vu Gia, Quảng Nam - đất nước & nhân vật của
Nguyễn Q. Thắng mà còn được đọc hàng ngàn bài báo của chính ông trong
công trình Phan Khôi - tác phẩm đăng báo của nhà nghiên cứu Lại Nguyên
Ân.
Tôi thật sự choáng
ngợp và thán phục trước kho tri thức uyên bác, vừa có chiều rộng lại có
chiều sâu mà ông sở hữu. Càng khâm phục hơn khi tôi biết kho tri thức đồ
sộ ấy là do ông tự học, tự tích lũy gần như cả đời mà có. Tôi lại nhớ
tới hai câu 5-6: Đầy bụng báng nhau trăm bộ sách, Còng lưng thồ nặng
chín triều vua trong bàithơluật Đường ông viết hồi năm 1957, năm ông 70
tuổi, có tên là Bảy mươi tự thọ mà từ lâu tôi đã thuộc lòng. Thế là câu
đối cứ tự nhiên mà ra, chẳng gặp bất cứ khó khăn nào, cứ như có ai đó
cầm tay tôi mà viết giúp vậy:
Dẫu tự học, chỉ tự rèn cũng đầy bụng báng nhau trăm bộ sách
Lo dân sinh, vì dân chủ mà còng lưng thồ nặng chính triều vua
Lo dân sinh, vì dân chủ mà còng lưng thồ nặng chính triều vua
Sao lại là chín
triều vua? Ngay từ hồi 1957, lần đầu tiên đọc bài thơ này tôi đã lấy làm
lạ, tiếc là không dám hỏi thẳng ông. Vì như tôi biết, ông sinh năm
1887, cho tới khi chấm dứt chế độ phong kiến ở Việt Nam, cha tôi từ
Quảng Nam ra Hà Nội rồi đi kháng chiến trên chiến khu Việt Bắc cũng chỉ
mới qua năm đời vua là Đồng Khánh (1885-1888), Thành Thái (1889-1907),
Duy Tân (1907-1916), Khải Định (1916-1925), Bảo Đại (1926-1945). Mãi tới
năm 1965, khi làm thư mục cho số sách vở, tài liệu, di cảo của ông để
lại, tôi mới thôi không thắc mắc nữa.
Ấy là nhờ tôi đọc
bài Những con số không nhất định trong từ ngữ trong số di cảo của ông
viết gần một năm trước khi mất. Trong bài khảo cứu này, ông cho biết số
chín trong từ ngữ nào có số chín không nhất định là để chỉ "số rất nhiều
trong các số cơ bản", như "chín tầng trời, chín nghìn anh em" là để chỉ
rất nhiều tầng trời, rất nhiều anh em. Nó khác hẳn với số chín nhất
định như nói thiều quang chín chục là chỉ chín chục ngày mùa xuân, đi
bốn biển chín châu là đi cả bốn biển chín châu theo cách người Trung
Quốc xưa phân chia đơn vị hành chính của nước họ. Vì vậy mà chín triều
vua trong còng lưng thồ nặng chín triều vua là đểchỉ ông đã phải sống
qua rất nhiều triều vua, không có ý gì khác, cũng chẳng định ám chỉ ai
hoặc bất cứ điều gì.
Ấy vậy mà hồi ấy
người ta bảo ông muốn ám chỉ chế độ dân chủ cộng hòa cũng chẳng khác gì
chế độ quân chủ chuyên chế của các triều đại phong kiến ngày trước (!).
Hai câu kết bài thơ Giật mình trước mắt nền dân chủ, Hất cái bia đi kẻo
trái mùa vì thếcũng chẳng hề có ý định lật đổ hay gì gì đó như hồi ấy
người ta gán cho ông. Có chăng đó chỉ là thiện chí muốn gột rửa ảnh
hưởng của tư tưởng phong kiến, thực dân; tự đổi mới mình cho hợp với
thời đại mới, thời đại tân dân chủ dự bị đi lên chủ nghĩa xã hội như
cách ông gọi trong bản Tự kiểm thảo ở đợt chỉnh huấn tại Việt Bắc hồi
năm 1953 mà gia đình còn giữ được.
Vậy mà một vị nhà
văn nọ đã họa bài thơ với những từ ngữ hết sức khó nghe mà người đọc có
chút lương tri chắc chắn phải xấu hổ thay. Đây chẳng phải là lần đầu ông
bị nghi ngờ. Trước đó cũng đã vài lần ông bị nghi oan đến nỗi phải kêu
lên: Tôi sao lại có tâm địa xỏ lá đến nỗi mỗi khi nói phải có ám chỉ ai
mới được? Hóa ra câu cửa miệng muốn nói oan... lưu truyền trong dân gian
bao đời nay thời nào cũng đúng vậy!
"Nắng được thì cứ nắng"
Đầu năm 2013, tôi
nhận được tin vui. Bản thảo Nắng được thì cứ nắng của Phan An Sa, em
trai tôi, kể lại cuộc hành trình 23 năm cuối đời của cha tôi, từ lúc là
chủ nhiệm báo Sông Hương, qua chủ nhiệm báo Nhân Văn do Nhà xuất bản Tri
Thức ấn hành sẽ ra mắt độc giả. Cuốn sách dày gần 700 trang, khổ 16 x
24cm này tôi đã được đọc từ khi nó còn là bản thảo. Rồi đây những góc
khuất trong cuộc đời cha tôi sẽ được trở ra ánh sáng. Những gì mà một
thời người ta viết về ông, làm cho con người và văn nghiệp của ông bị xô
lệch, méo mó đi sẽ được nhìn nhận lại một cách khách quan và công bằng
hơn.
Mấy ngày sau, tôi
lại được xem tập phim tư liệu Con mắt còn có đuôi trên trang Phóng sự -
tài liệu của Đài phát thanh - truyền hình Đà Nẵng. Những điều mà bộ phim
nói tới là sự khẳng định rất có ý nghĩa tên tuổi và những đóng góp của
ông cho quê hương, đất nước; thể hiện cách nhìn, cách đánh giá mới của
nhân dân, trong đó có giới trí thức, nhà văn, nghệ sĩ đối với con người
và sự nghiệp văn chương của cha tôi.
Càng vui, tôi lại
càng ngậm ngùi khi có thời gian nhìn lại và suy ngẫm về cuộc đời ông.
Sao lại có người như cha tôi, suốt một đời đi tìm cái mới cho đất nước,
cho khoa học, có khi dấn thân vào cả chốn hiểm nguy, lại một thời gian
dài chẳng được ai hiểu cho, mãi tận cuối đời vẫn phải sống trong cô đơn,
cô đơn ngay trong chính gia đình của mình? Phải chăng cuộc đời này đã
không công bằng, đã quá nghiệt ngã với ông? Hỏi ông còn biết sống với
ai, hay cái chết mới chính là sự giải thoát? Năm nay, vào dịp 54 năm
ngày ông qua đời, tôi viết câu đối thứ tư dâng lên hương hồn ông:
Đi kháng chiến, đuổi thực dân, tội phản động về cùng chín suối
Đón văn minh, khai dân trí, gương duy tân ở với trời xanh!
Đón văn minh, khai dân trí, gương duy tân ở với trời xanh!
Nguồn: TTCT
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét