23/11/15

BÁC PHẠM HUY THÔNG

2. TÔI VẼ BÁC PHẠM HUY THÔNG

Tưởng cầm kỳ thi họa thong dong,
bỗng bát ngát Ô - giang hồn Hạng Tịch.
Đang Nam Bắc Đông Tây hò hẹn,
sao vội vàng tiên cảnh gót Lưu Lang!
(GS. Vũ Khiêu,
viếng GS. PHT, 6-1988)


ẢNH 3. Chân dung GS Phạm Huy Thông, vẽ năm 2000


Năm 2013, tôi tặng lại Viện, nhân Kỷ niệm 45 năm thành lập Viện Khảo cổ học tấm hình trên.
Nhớ lại năm tôi vẽ chân dung Bác Phạm Huy Thông, khi Bác đã đi xa 12 năm (6-1988 – 6-2000). Hồi ấy tôi đang là cộng tác viên cho Tạp chí Tia SángNăm đó Tạp chí có mở một mục mới, viết về chân dung các nhà khoa học. Tôi nhận sẽ có bài viết về GS.Phạm Huy Thông. Anh Văn Thành, phụ trách nội dung của Tòa soạn đồng ý.
Về nhà, tôi điện thoại tới Phó Giáo sư Cao Xuân Phổ đặt bài viết về Bác Thông. Tôi nói, em sẽ vẽ Bác Thông để minh họa bài viết của anh. Anh Phổ nhất trí. Đến hẹn nộp bài, trưa 31-5 tôi gọi điện tới anh Phổ, anh nói vừa đi thăm Ăngko Thom, Ăngko Vat về. Hỏi anh về bài viết, anh nói đã viết xong chỉ còn thiếu mấy dòng kết. Tôi liền đến ngay để nhận bài, đưa đánh vi tính. Dự định chiều sẽ dành 2 tiếng vẽ Bác Thông, kịp sáng 1-6-2000 nộp cho Tạp chí. Tính thì như vậy, nhưng khi vẽ, chỉnh sửa chỉ độ nửa giờ đã xong. Tôi không ngờ bức vẽ hoàn chỉnh lại nhanh như vậy so với nhiều chân dung khác đã vẽ.
Ngay chiều đó tôi đến nộp bài. Anh Thành nói, bài viết về Giáo sư Phạm Huy Thông kèm theo chân dung bạn vẽ đẹp quá sẽ đăng trong tháng này, mình đành để bài viết về cụ Hồ Đắc Di sang tháng sau. Tôi nói thêm, mong muốn của anh em mình là bài viết được in trong tháng 6, ý là tròn 12 năm ngày Bác Thông đi xa (6-1988 – 6-2000). Anh Thành “chiều” tôi và Tạp chí Tia Sáng số 6 năm 2000 ra mắt bạn đọc có bài viết này.
Cùng tháng đó, tôi lên phần mộ Bác Phạm Huy Thông tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội để trình bài viết và bức chân dung được in. Tôi thắp hương rồi “hóa”, như một bản “báo cáo” gửi Thủ trưởng. Nhân viên của Bác có nguyện ước từ lâu, nay sau 12 năm mới hoàn thành “đề tài”. Chắc Bác Thông sẽ mỉm cười độ lượng với anh em chúng tôi từ năm ấy!


ẢNH 4. Phần mộ GS Phạm Huy Thông tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Ảnh HV, 6-2000



ẢNH 5. Bài in trong Tạp chí Tia Sáng, tháng 6-2000

Láng Hạ, áp Tết Giáp Ngọ – 2014

* 

MỘT TẤM LÒNG NHÂN ÁI, MỘT NHÀ KHOA HỌC LỚN

CAO XUÂN PHỔ (*)

Một nhà khoa học lớn, một tâm hồn thơ ca bi hùng tráng, một cuộc đời trầm bổng. Có lẽ đó là những nhân tố đã hun đúc nên lòng nhân ái của Thầy Phạm Huy Thông.

Hồi đó là vào năm 1988. Mẹ tôi qua đời ở Hà Nội. Bấy giờ tôi đang công tác biệt phái ở Mông Cổ, không về chịu tang mẹ được. Thầy Thông là người đầu tiên đến viếng tang mẹ tôi. Qua điện thoại đường dài nhà tôi báo cho biết vậy. Tin tức đó thật làm cho tôi vô cùng xúc động. Vì thầy Thông bấy giờ là Viện trưởng Viện Khảo cổ học, không phải là Thủ trưởng trực tiếp của tôi mà là Thủ trưởng từ 20 năm trước khi tôi làm việc ở Tạp chí Khảo cổ học dưới quyền trực tiếp của Thầy và là Thầy dạy của tôi từ 30 năm trước ở Khoa Sử Trường Đại học Sư phạm. Cái tình Thầy trò nó sâu đậm là như vậy. Thông thường là học trò tới thăm Thầy – mà đạo lý là như vậy, chứ mà Thầy đến thăm hỏi học trò thì có phần hiếm. Và cũng chính Thầy là người đã hết lòng “can thiệp” với Sở Giáo dục Thái Nguyên cho vợ tôi sau 10 năm dạy tại Việt Bắc được về dạy ở Hà Nội để gần gũi gia đình vào năm 1970.
Mà đâu phải Thầy chỉ có “ưu ái” một mình tôi. Những ai làm việc dưới trướng Thầy đều nhận được lòng quan tâm thân ái của một người anh cả đối với đàn em. Mọi việc ma chay, cưới xin của mỗi chị em trong Viện Khảo cổ học dù ở xa mấy, lên tít Lục Ngạn, Bắc Giang hay vào tận Thanh Hóa, Nghệ An – Thầy không nề hà xa xôi mưa nắng đến tận nơi, với một tấm lòng chân thành chia sẻ nỗi buồn, niềm vui với gia đình, dù trong những chuyến đi đó có lúc xe ôtô gầm rú trượt bánh trong bùn lầy hoặc “nhầm đường” lăn bánh xuống suối! Chính cái tâm hồn nhân ái của Thầy có tác động như một chất keo gắn kết cán bộ nhân viên trong Viện Khảo cổ học thành một khối, đồng một lòng xây dựng Viện thành một cơ quan nghiên cứu có uy tín trong và ngoài nước.
Tôn trọng và luôn động viên những người đồng nghiệp và cán bộ nhân viên làm việc với mình thường hằng của Thầy Thông đối với các cộng sự của mình. Công cuộc nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương vào đầu những năm 70 do Giáo sư Phạm Huy Thông chủ trì và chỉ đạo là một biểu hiện sáng danh. Có lẽ không quá đáng khi nói rằng lâu lắm trên “khoa học đàn” Việt Nam thời sau Cách mạng mới có một cuộc tập hợp các nhà khoa học xã hội thuộc các ngành, các văn nghệ sĩ và cả những nhà khoa học tự nhiên đông đảo và hào hứng đến như thế. Bốn tập Hùng Vương dựng nước, xuất bản vào những năm 70…là những tiếng nói tâm đắc, những suy ngẫm khoa học ấp ủ từ lâu của cả một đội ngũ trí thức mong muốn góp sức mình vào sự nghiệp hưng danh văn hóa dân tộc, mà tiêu biểu là Giáo sư Phạm Huy Thông. Năm ngoái – 1999, trong một buổi trò chuyện vói một số trí thức người Việt ở Canberra (Úc) có người hỏi tôi với giọng hâm mộ “Thế Hùng Vương dựng nước không còn ra tiếp nữa à?...”.
Ở đây cũng xin nói thêm một ý tức của Thầy Thông về thời kỳ Hùng Vương. Hồi đó (1969-1973) tôi làm việc ở Tạp chí Khảo cổ học. Trong những bài Thầy viết về thời kỳ Hùng Vương, hầu như bao giờ cũng có một từ ngữ “tương ứng” với hai gạch dưới và mũi tên kéo ra ngoài lề chỉ đến chữ “chú ý” trong ngoặc kép (như, tương ứng với thời kỳ Hùng Vương trong dã sử, Khảo cổ học đã phát hiện được các Văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn…). Thái độ thận trọng trong khoa học đó, tôi đã học tập được rất nhiều trong thời kỳ làm Tạp chí Khảo cổ học, trong bài viết của mình và nhất là sau này (1987-1989) khi làm biên tập tạp chí tiếng Anh Buddhists for Peace ở Ulan Bator, Mông Cổ. Thận trọng với mình nhưng tôn trọng người khác. Trong lĩnh vực Tạp chí Khảo cổ học, Thầy quy định đại ý: bài của anh V, anh T, anh TC, anh C…gửi đến thì đăng nguyên văn không sửa chữa, còn những bài khác thì anh biên tập trước, tôi xem lại sau. Ấy, nhưng với những bài chính tay Thầy viết thì hầu như bao giờ Thầy cũng đưa tôi xem lại với những chỗ, những đoạn có ghi chú ngoài lề như “cách diễn đạt (?)”, “từ ngữ (?)”, “chú thích (!?)”…dạy bảo bằng chính hành vi của mình.
Phương châm sống của Thầy – như tôi nhận biết – và lời khuyên của Thầy với mọi anh em là luôn giữ bình tĩnh để ứng phó với mọi biến cố đầy rẫy trong cuộc sống, từ thân phận đến địa vị, bớt cay cúđể tìm hướng vươn lên. Cuộc đời Thầy không thiếu lúc lên bổng xuống trầm, song hầu như không bao giờ thấy Thầy lộ vẻ bực dọc, bất mãn, mà vẫn làm việc hết mình trong mọi thân phận. Tôi còn nhớ hồi đó, đầu những năm 70, sau khi tôi khai quật khảo cổ tháp Chương Sơn thời Lý ở Nam Hà và viết báo cáo hoàn chỉnh về di tích đó, Thầy động viên tôi viết thành sách để xuất bản. Đề cương được Thầy thông qua. Tôi bắt tay vào viết. Mới chừng được 50 trang thì Thầy gọi tôi đến khuyên, đại ý nên dừng lại vì tình thế ở cơ quan không có lợi cho anh nếu sách anh được xuất bản, dù anh có được chút tên tuổi. Thật chí tình!
Tháng 6 năm 1988, Thầy Thông đã ra khỏi cõi tục thế nhưng lòng nhân ái của Thầy vẫn in đậm mãi trong tâm trí tôi, và có lẽ ở cả nhiều người khác nữa.

Thanh Xuân, 5-2000



 (*) PGS Cao Xuân Phổ, đã tạ thế hồi 17 giờ 19 phút, ngày 20-10-2015, tức 8-9 Ất Mùi, tại Bệnh viện Hữu Nghị, Hà Nội. Hưởng dương 87 tuổi.
Ảnh HV, 10 -2015

***

2 nhận xét: