10.
BIẾT MỘT NGƯỜI, TRONG MUÔN NGƯỜI
1. NGƯỜI THẤP, NHỎ…, ĐEO KÍNH CẬN
ẢNH 36. Nguyễn Thế Tăng và Hoàng Văn thăm Vịnh Hạ Long.
Ảnh TL,
9-1998
Tôi biết anh,
khi anh về Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam cùng đợt với các anh: Đỗ Văn
Ninh, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Duy Chiếm,... vào năm 1966-1967(?). Anh học ngành
Sử, Trường Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc thường gọi tắt là Trường Bắc Đại.
Từ năm 1965, đế
quốc Mỹ đưa máy bay ra ném bom đánh phá miền Bắc nước ta, nhằm hạn chế sự chi
viện của nhân dân miền Bắc cho đồng bào miền Nam ruột thịt chống Mỹ, cứu nước.
Ác liệt nhất từ năm 1966 trở đi.
Thời gian đó, Thành
phố Hà Nội có chủ trương sơ tán triệt để các cơ quan của Trung ương đóng trên
địa bàn Thành phố, ngay cả những cơ quan thuộc Hà Nội cũng vậy. Các đơn vị
thuộc Uỷ ban KHXH Việt Nam
lúc ấy cũng không nằm ngoài chủ trương trên. Các xã Thường
Thắng, Xuân Hòa, Mai Trung, Kè Thường... thuộc huyện Hiệp Hòa - Hà Bắc, được
chọn làm địa điểm sơ tán cho các đơn vị trong Uỷ ban: Khảo cổ, Dân tộc, Văn
phòng Ủy ban, Sử, Kinh tế,...Những ngày đầu
đến nơi sơ tán, làm chuyên môn thì ít mà anh chị em chúng tôi thường phải tham
gia các công việc khác: đào hầm, học cứu thương, tập tự vệ và đi ... chợ Bầu.
Tại nơi sơ tán,
có những đợt học tập quân sự tại đồi Thông hoặc sơ kết công tác cơ quan, anh
chị em đều có mặt đầy đủ. Những dịp đó chúng tôi thường tổ chức những buổi văn
nghệ hát hò, bóng bàn, đá bóng để mọi người tham gia vui chơi giải trí. Khảo cổ và Sử là
đơn vị đầu tiên tổ chức bóng đá tại sân vận động của xã Xuân Hòa. Buổi đấu giao
hữu được cổ vũ nhiệt tình của anh chị em cơ quan, có cả hai nữ y tá Văn phòng:
Mai Hoa, Ngọc Toàn cũng được cử đến để chăm sóc cho các cầu thủ. Đông nhất vẫn
là các cháu thiếu nhi và thanh niên của xã đến cổ vũ cho hai đội bóng “Trung
ương”.
Tôi còn nhớ,
trước giờ hai đội vào sân, có nghe người bên mình nói - nhớ phải kèm chặt “cái
tay” - Người thấp, nhỏ... đeo kính cận. Tay ấy đá hay lắm. Đã đá ở Đội
tuyển Sinh viên Việt Nam
học tại Bắc Đại. Người nói, vừa nói vừa chỉ tay hướng tới người ấy. Tôi nghe xong, gật đầu
và nói sẽ có cách. Một thông tin rất hay!
Vì sân nhỏ nên
mỗi đội chỉ đá 7 người. Bên Khảo cổ giữ gôn: Lân Cường; hậu vệ: Nguyễn Thành
Trai, Hà Nguyên Điểm...; tiền đạo: Cao Xuân Phổ, Hoàng Văn Dư, Nguyễn Văn Kự.
Tôi có nhắc anh Thành Trai và Hà Nguyên Điểm kèm chặt “cái tay” đeo kính cận
ấy. Ba chúng tôi đã hiểu, cần phải làm gì.
Trong hai hiệp
đấu, bên tôi anh Cao Xuân Phổ rơi kính cận nhiều lần vì mải tranh bóng với đối
phương, phải lọ mọ đi tìm kính. Còn bên Sử “cái tay” đeo kính cận ấy, có phải
nhặt kính lần nào không thì chẳng biết. Bên tôi có “Lăn Kềnh” - Lân Cường, cũng
trổ tài mấy lần bay người bắt bóng, được hoan hô nhiệt liệt. Không rõ những cú
sút của đội bạn mà Lân Cường phải bay người, có phải “cái tay” đeo kính cận sút
không?
Chợt nghĩ, đeo
kính cận mà đá bóng chỉ cần rơi kính thì ... vứt đi rồi. Có để bóng trước mũi
giày, đá chưa chắc trúng bóng, huống chi lại đá vào gôn, nếu có đá vào chỉ là
hú họa. Kết thúc trận
giao hữu giữa hai đội Khảo cổ và Sử, hình như... không có tỷ số. Mọi người ra
về vui vẻ.
Sau trận đá giao
hữu ấy, tôi mới biết “cái tay” “Người
thấp, nhỏ, ... đeo kính cận” tên anh là Tăng - Nguyễn
Thế Tăng.
2. GHI CHÚ VỀ BÁC TĂNG
Cách đây mấy
tháng, tên Bác Tăng được
tôi nhắc tới trong một truyện ngắn: Nhớ
về cội nguồn, nhân ngày Giỗ tổ Hùng Vương, 10-3 Mậu Tý, tức ngày
15-4-2008. Tôi viết cho cháu nội dịp vào thăm gia đình con trai tại Thành phố
Hồ Chí Minh.
Trích:
“... Cách
nay, có đến trên 20 năm. Ông cho bố cháu đi thăm Đền Hùng - Phú Thọ cùng với
các bác trong cơ quan. Chặng đường từ Hà Nội đến Đền
Hùng gần 100 km. Năm đó, bố cháu mới hơn
10 tuổi học lớp 3 (?). Đưa Đoàn đến Đền Hùng, nghỉ một chút, ông tìm người hướng
dẫn, thuyết minh cho Đoàn đi từ đền Hạ, đền Trung, đến đền Thượng. Vì có công
việc đột xuất ông không đi cùng với Đoàn. Ông nhờ Bác Tăng kèm, trông nom bố
cháu. Buổi thăm viếng Đền Hùng kết thúc. Bác Tăng gặp ông, kể lại: “Con
ông chạy nhảy ghê quá! Tí nữa lao đầu xuống chân đồi, may mà tôi còn kịp tóm
được cái cổ áo giữ lại, không thì...”. Nghe Bác Tăng kể lại. Ông hết hồn. Nhìn bố cháu,... suýt
ông cho “ăn” một cái “ bợp tai”. Tuổi con trẻ, hiếu động mà”.
(Trích HV:
Tập truyện “Ông kể chuyện này...”
,
viết tại
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 15-4-2008).
Phần cuối bài
viết, tôi có ghi chú hơi
dài về Bác
Tăng: Trước học ở Trung Quốc,
ngành Sử - Đại học Bắc Kinh. Về nước được phân công về Viện Sử học, mấy năm sau
chuyển về Viện Đông Nam Á. Rồi theo yêu cầu của Tổ chức, chuyển lên Vụ Tổ chức
- cán bộ, thuộc Ủy ban KHXH Việt Nam. Một thời gian ngắn thì chuyển về Viện
Châu Á và Thái Bình Dương, rồi Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc. Làm Phó Giám
đốc rồi Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc nay là Viện Nghiên cứu Trung
Quốc, thuộc Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam .
Bác Tăng mất năm 2000.
Kể từ ngày biết
anh - “Người thấp, nhỏ... đeo kính
cận” khi cùng đá bóng với nhau ở Hiệp Hòa - Hà Bắc, sau những
năm sơ tán lại trở về Hà Nội, mỗi người một việc, một nghề. Và, như một nhân
duyên tôi lại được gặp anh, bắt tay anh khi anh chuyển về Viện Châu Á và Thái
Bình Dương sau này là Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc. Từ đó tôi và anh trở
thành đồng nghiệp cùng cơ quan. Tính đến ngày anh đi xa chúng tôi gần nhau, gắn
bó cũng 15 năm có lẻ.
Mọi chuyện vui,
buồn của tôi và anh đều có thể viết thành những truyện ngắn: Chụp ảnh giữa Quảng trường Thiên
An Môn; Đưa anh đi mua hàng thùng (second-hand); Xây nhà trong túi chưa có
tiền; Lỡ một Hợp đồng tài trợ, v.v...
Năm nay, tháng
này, ngồi ghi lại những kỷ niệm về anh, lại nhớ lần Giáo sư Vũ Khiêu đến dự Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập Trung tâm Nghiên
cứu Trung Quốc (3/2/1999), Giáo sư Vũ Khiêu có Mừng Trung tâm một
câu đối để chia vui với thành tích của Trung tâm, của nguyên Giám đốc Nguyễn
Huy Qúy, cũng như chúc mừng, khích lệ tân Giám đốc Nguyễn Thế Tăng.
Câu đối như sau:
THÀNH TÍCH NĂM NĂM XEM ĐÃ QUÝ
CÔNG TRÌNH CHÍN CHÍN HẲN CÀNG TĂNG
(*)
Nhớ anh! Thế là đã hơn 40 năm
kể từ khi tôi biết tên anh. Và, cũng đã hơn 8 năm ly biệt. Cầu mong anh được
an bình trong giấc mộng ngàn thu!
Anh ra đi ngày ấy, 4-4-2000,
tức 30-2 Canh Thìn, khi sự nghiệp, ước vọng đang trên đường thênh thang rộng
mở. Thật tiếc thay!
Láng Hạ, vào Thu năm 2008
(Bài in trong sách NGUYỄN THẾ TĂNG:
MỘT CHẶNG ĐƯỜNG NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC.
Nhà xuất bản KHXH. Hà Nội, 2008)
(*) Hiện tôi còn lưu bản viết tay của Giáo sư Vũ Khiêu
ngày đó. Nhưng khi phát biểu tại Hội trường – xem lại băng ghi hình, Giáo sư Vũ
Khiêu nói vế sau là: “ĐỀ TÀI chín chín hẳn càng TĂNG”. Do vậy, tác giả bài viết
này sử dụng bản viết tay của Giáo sư Vũ Khiêu, vế sau: Công trình chín chín hẳn
càng TĂNG (HV, 2014).
***
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét