21/11/15

THĂM NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN

8. THĂM NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN,
HỎI GIÀ ĐÔ ?




ẢNH 33. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn và Hoàng Văn tại nhà riêng Hải Phòng.
Ảnh TMH, 7-2003


"... Qua điện thoại đường dài, được biết anh vào điều trị bệnh tại Thành phố Hồ Chí Minh, anh chị ở với vợ chồng con gái, địa chỉ, ...
Mấy ngày sau, tôi điện cho con trai Hoàng Việt Anh – gia đình cháu ở trong đó từ năm 2007, ghi lại địa chỉ để đến thăm hai bác, và dặn nhớ mua cho bố một thùng bia Hà Nội biếu bác..., cháu còn gắt với tôi...., ai đến thăm người ốm lại mua bia? Tôi giải thích với cháu,... bác Tấn bệnh, có nhiều bạn, nhiều người đến thăm, bia để bác tiếp mời khách. Nhìn khách, bạn hữu uống là bác vui và khỏi bệnh đấy con ơi!... Qua điện thoại, biết anh chị sẽ trở về Hải Phòng vào ngày 8-9-2014".
 
 ... Từ Hà Nội, tôi xuống Hải Phòng thăm anh. Trên đường đi, tôi gọi điện báo để anh chị biết. Tiếp điện thoại, không phải anh Tấn mà là cháu trai trả lời: bố cháu đang mệt, chú tên gì ạ?… Tôi đến nhà lúc 11h 05 phút. Cháu Hiến, trưởng nam anh chị tiếp tôi. Cháu kể, từ 2 giờ sáng nay, bố cháu đau nhiều, mẹ con cháu phải thức, …
Anh mệt, đang nằm trên chiếc ghế dài tại phòng khách. Chừng 4, 5 phút sau, nhận ra tiếng nói của tôi,… anh mở mắt, ngồi dậy..., tôi ôm hôn anh. Hỏi anh về sức khỏe, anh nói mệt và đau nhiều ở cột sống, không ngồi lâu được, thường phải nằm và mất ngủ nhưng vẫn tinh tường. Tôi nói, hôm nay em xuống thăm anh chị để trình bản thảo bài viết: THĂM NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN, HỎI GIÀ ĐÔ?, trên đường đi mới biết anh mệt.

Ngồi nghe tôi đọc bản thảo xong, anh nói: “Phải quý mến vợ chồng mình lắm, Dư mới nhớ những câu chuyện mình viết cách nay đã 15 năm. Nay mới viết. Nghe Dư đọc xong mình rất cảm động, nhất là đoạn ngắn vừa đọc xong, mình tâm đắc!”. Xin chép lại đoạn ngắn: “... Luận giải thế nào về “bản mệnh” của anh từng nếm trải trong suốt 5 năm tù tội mà bản  thân“đi” tìm mãi vẫn không thấy “tội”, chỉ thấy “tội nghiệp”cho một kiếp người!...” (11h25, ngày 1-11-2014).

... Cùng ăn trưa với anh chị, cháu Hiến, bát bún thang. Chị Bích nói, ăn tạm thế này chú Dư thông cảm cho. Tôi nói, em thích ăn trưa nhẹ như vậy. Anh Tấn ngồi là đau, nhưng gắng ngồi ăn hết tô bún nhỏ.

… Tôi vào phòng bên, bước nhẹ chân, thấy cháu Hiến đang áp thuốc nam vừa sao, chườm vào lưng. Cầm tay anh tôi nói nhỏ, em về nhé! Anh mở mắt nhìn tôi nói: “Cảm ơn Dư, thông cảm cho mình nhé!...".
Tôi rời nhà anh chị về Hà Nội, 13h05 ngày 1-11-2014.

*

Con trai Hoàng Việt Anh E-mail cho tôi: "Ông Bùi Ngọc Tấn đã mất hồi 6 giờ 15 phút, ngày 18-12-2014".
Đọc tin vậy, tiếc thương anh nhiều. Mệnh đã điểm, làm sao cưỡng được anh Tấn ơi!  Tôi cảm thấy không ngỡ ngàng lắm, vì biết bệnh nan y quái ác đã đeo bám anh từ lâu, và tự an ủi mình, còn may mắn được gặp anh lần cuối. Tôi điện thoại tới gia đình để chia buồn cùng một điện hoa nhờ Bưu cục Hải Phòng đem tới viếng anh vào trưa 19-12-2014, có ghi: "Gia đình nhà báo Hoàng Văn, Hà Nội – Kính viếng Nhà văn Bùi Ngọc Tấn!".

... Anh ra đi, để lại trong tôi nhiều kỷ niệm, kể từ ngày đầu gặp anh. Những ai được tiếp xúc với anh đều có cùng một nhận xét - một con người trung thực, dễ mến. Với tính tình điềm đạm, ăn nói nhẹ nhàng, không gây sốc với đồng nghiệp, kể cả những người đồng cảnh "đặc biệt" – tù tội. Cặm cụi làm việc, để lại cho đời hàng ngàn trang văn, hàng chục tác phẩm văn học, nhiều tác phẩm xuất sắc được bạn đọc yêu thích. Anh được nhiều giải thưởng văn học trong nước cũng như nước ngoài.
Với nhiều người "đặc biệt" – tù, thì lại thân thiết, tôn trọng, thậm chí còn vì tình,... mà cưu mang, chia sẻ cảnh ngộ như nhân vật "già Đô" trong sách "Chuyện kể năm 2000".

Thăm anh chị từ năm ấy, đầu năm 2014 tôi mới viết bài, có tít: "Thăm Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, hỏi già Đô". Đầu tháng 11-2014, tôi xuống Hải Phòng gặp anh để thông qua bài viết như đã kể.

Sách "Chuyện kể năm 2000" - Tiểu thuyết, được chia làm hai tập. Tập một có 494 trang – từ trang 5 đến trang 499. Tập hai có 354 trang – từ trang 5 đến trang 359. Tổng cộng hai tập: 848 trang, sách in khổ 13x19cm.
Bìa do nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo sáng tác. Chịu trách nhiệm xuất bản: Bùi Văn Ngợi,... In 1.500 cuốn, khổ 13x19. In tại Công ty In & Văn hóa phẩm. Đăng ký tại Cục Xuất bản số 79/729 CXB, ngày 4-8-1999. In nộp lưu chiểu tháng 2-2000.

Sách được in, ra mắt bạn đọc tháng 2-2000, tôi được Nguyễn Trọng Tạo cho đọc. Xem lời ghi tặng của anh Bùi Ngọc Tấn còn ánh mực: "Tặng Nguyễn Trọng Tạo. Cảm ơn Tạo đã làm cho mình một cái bìa tuyệt vời, 2-2-2000, ký". Bạn đọc có thể biết cuốn sách này. Sách được bày bán, chưa kịp nộp lưu chiểu thì có "lệnh" thu hồi, không được phát hành.

*

BÙI NGỌC TẤN tác giả cuốn "Chuyện kể năm 2000". Sách là những trang hồi ký kể lại trong một thời gian dài, từ khi anh nhập trại cải tạo, tháng 11-1968 cho đến khi ra trại, tháng 4-1973. Tổng cộng, theo như tác giả tính là 55 tháng. Trở về năm 1973, ... sau hai năm thất nghiệp, tháng 5-1975 anh được làm nhân viên Văn phòng Quốc doanh đánh cá Hạ Long, cho đến tháng 5-1995 thì nghỉ hưu.
Sách viết kể lại nhiều nhân vật, qua nhiều trại,... từ trại trưởng, quản giáo Quân,... đến cấp lãnh đạo ở tỉnh P., như ông Trần, ông Hoàng,... cho đến những "phạm" – người tù, như: Lượng, Cần, Di, Dự,... Hỉn Sán, Cắm Xìn, ..., rất nhiều nhân vật. Đây là cuốn tiểu thuyết, một trong số tiểu thuyết có nhiều nhân vật nhất mà tôi từng đọc. Dễ có hơn ba chục tên nhân vật. Trong số đó, ngoài "hắn" – Tuấn, có hai nhân vật tôi nhớ mãi không quên, đó là:

1. Già Đô – người trong trại cải tạo. Già bước vào trang văn của BNT từ trang 15, tập một 494 trang cho đến trang 351, tập hai 354 trang. Già không xuất hiện nhiều ở những trang tiếp, nhưng đôi hồi, trong tập một, cho đến cuối tập hai, bóng dáng già vẫn đi cùng với "hắn". Tác giả BNT dành nhiều trang nói về "già Đô", già như người chứng kiến số phận "hắn" - Tuấn, và ngược lại.
 Lần đầu xuống thăm anh chị, tôi được biết nơi nghỉ nhờ của "già Đô" ở một góc trong căn phòng hẹp năm nào. Nay đã kê chiếc tủ áo nhỏ.

2. Chị Ngọc, vợ Tuấn - người ngoài trại. Một phụ nữ thấp nhỏ, mảnh mai, sức vóc không được khỏe so với người cùng lứa tuổi. Ấy vậy đã vượt qua bao đoạn trường, ngang trái trong đời. Chị là người kiệm lời. Nhưng khi gặp cảnh bất bình, bức xúc thì ăn nói dễ thuyết phục, đi vào lòng người. Đôi khi những lời chị thủ thỉ với chồng con lại làm ta nghẹn lòng. Tôi còn nhớ câu chị nói với chồng. Chị nhận hết lỗi về mình khi tai họa kéo dài đến với "Tuấn", chị nói: "Tại em. Em nặng số lắm. Anh lấy em khổ lây,...". Tác giả BNT đã đặt câu này rất đắt vào nhân vật - người vợ yêu quý mà cũng là điển hình cho nhiều phụ nữ Việt Nam: nhu mì, tần tảo, chiều chồng, thương con,...! Hẳn bạn đọc còn nhớ nhiều trang khi tác giả nói về nhân vật Ngọc....

*

Về nhân vật "già Đô", theo tôi hiểu là một con người có "nhân cách", yêu nước, có tay nghề cao, thẳng thắn và không biết sợ, nhưng lại "sợ chết trong tù". Tôi đóng ngoặc kép chữ nhân cách bởi nhân vật này để lại cho tôi nhiều ấn tượng. Từ khi "bị" vào trại, tới lúc ra tù. Khi ra tù,... lại muốn trở vào trại bằng cách chủ ý đi "ăn cắp" để được bắt vào tù; già còn nhờ "hắn" – Tuấn, viết "Đơn xin vào lại trại cải tạo...". Đúng là "người rách việc". Chữ nhân cách tôi phải đóng ngoặc kép vì vậy. Ta hãy đọc những dòng sau để biết về "già Đô" của BNT (Xin tóm lược).

"... Già Đô là người lang bạt nhiều nơi. Trong thế chiến thứ II, làm lính thợ cho Pháp quốc. Đã đi từ Pháp tới Angiêri (cái lý lịch này thật tai vạ cho già). Già làm lính thợ đốt lò dưới tàu Commerce Maritinmes thuộc Hãng Đầu Ngựa, hành trình Hải Phòng – Marseill và ngược lại, đó là hành trình của những năm tuổi trẻ. Làm ở hãng này hai năm thì già thôi việc vì không chịu nổi lời mắng mỏ của ông chủ: - đồ lợn, - giống ngu xuẩn. Già bỏ hẳn công việc, rời tàu lên phố Marseill kiếm việc làm,... sau này già tìm được việc làm ở xưởng chữa xe động cơ. Tại đây già bị "động viên" vào đơn vị cơ giới của quân đội Pháp, già đến Maroc, Angiêri. Kết thúc thế chiến thứ II, già trở về Marseill, làm tại xưởng máy cũ, rồi lấy cô vợ người Pháp, có tên Jeannette.
Năm 1945 già biết quê nhà đã giành được độc lập. Sau này nghe tin hiệp nghị Genève đã ký kết, nửa đất nước độc lập,... có biết cụ Hồ. Già đã tính..., trong khi ấy bà Jeannette đã sinh cho già một cô con gái xinh đẹp, có nước da trắng của bà, có đôi mắt đen của già Đô. Mặc bà vợ khóc can ngăn, già vẫn quyết định về nước. Già nghĩ rằng, nước nhà đã độc lập, sau đó sang đón vợ về cũng không muộn. Già Đô trở về nước.

Già về nước..., vào làm ở xí nghiệp cơ khí T. Đó là những ngày hạnh phúc, già bảo vậy. Công việc khôi phục nhà máy giấy bắt đầu. Xí nghiệp cơ khí T. sống lại. Mấy năm gian khổ, nhưng già sung sướng vì đã toại nguyện. Già đã làm việc cho Tổ quốc. Ông giám đốc rất quý già. Nhưng rồi ông giám đốc chuyển đi. Một ông khác từ Sở chuyển về thay.

Những năm tháng nặng nề..., bắt đầu. Cái lý lịch năm nào ghi già đi lính cho Pháp cộng với làm việc chuyên môn thuần túy, không viết bích báo,... Giám đốc mới, chuyển già về tổ cơ điện, từ chức đốc công nay chuyển về làm thợ. Chức đốc công chuyển cho cháu ông giám đốc mới. Nhiều chuyện tiêu cực xẩy ra với ông giám đốc mới. Đã có xe đạp phân phối đi rồi, lại nhận phiếu phân phối nữa ..., lấy sắt thép từ kho khi nhập về xí nghiệp, chở thẳng về nhà mình để... xây nhà. Hội nghị công nhân viên chức, già nêu vấn đề. Không ai giải quyết. Ông giám đốc kỷ luật già vì tội vu cáo. Hạ bậc lương, chuyển già đi dọn nhà tiêu, quét dọn trong nhà máy. Già,... kiện lên Sở, Sở bác đơn. Già bị đuổi việc.

Không có gia đình, già bơ vơ... Già đấu tranh theo kiểu Pháp: Làm một biểu ngữ. Ngồi ngay cổng xí nghiệp. Tay cầm biểu ngữ. Chữ kẻ trong miếng gỗ dán vuông: Phản đối xí nghiệp T. vô cớ xa thải công nhân. Thế là già vào tù....! ".

Không thấy tác giả nói già Đô vào tù năm nào? Tôi phỏng đoán vào năm 1964 hay 1965? Năm 1968 "Tuấn" vào trại 75 QN đã gặp già Đô. Như vậy già vào trại trước "Tuấn" 4, 5 năm hoặc trước nữa – "hai lệnh" (?). Nhưng khi ra tù thì lại sau "Tuấn" dăm tháng. Già ra tù không có chỗ nương thân, lại đến cậy nhờ vợ chồng "Tuấn". Già tá túc tại đây. Sáng, rời nhà "Tuấn" chưa bảnh mắt, loa đài chưa có nhạc tập thể dục. Tối, khi đài hết mục "đọc chuyện đêm khuya" mới trở về, hôm nào cũng như hôm nào. Khi ra khỏi nhà thì xếp chăn màn gọn ghẽ, khi về thì lẳng lặng nằm vào một góc mà vợ chồng  "Tuấn " đã dành cho già. Nằm là ngủ, không trò chuyện, nước nôi,...

Buổi chia tay khi rời nơi tá túc này, già có vẻ ân hận nói với vợ chồng "Tuấn".
"... Đêm khuya đó, già tự nhận lỗi về phần mình. Già cho rằng chỉ do già mà hắn mới bị lôi thôi.... Già Đô nghỉ sáng hôm sau. Ngọc chần mì, hòa nước mắm giấm ớt cả nhà ăn. Một bữa sáng đặc biệt sang trọng đãi già. Hắn ép già ăn hai bát. Ăn xong, già mời Ngọc ngồi xuống để già nói chuyện. Già nói chậm chãi nghiêm trang:
- Hoàn cảnh tôi có khó khăn, được cô chú giúp đỡ không biết lấy gì cảm ơn cho được. Tôi cũng chỉ định nhờ cô chú dăm ba ngày. Nhưng hóa ra lâu, cũng gần hai tuần rồi. Cô chú quá tốt với tôi..., nhà cửa cô chú chỉ có mấy bước chân, ... các cháu đã lớn cần chỗ nghỉ ngơi, học tập.
- Hôm nay, xin phép cô chú tôi đi. Nói thật với cô chú, tôi cũng không có chỗ nào..., không có chỗ thì rồi cũng phải có chỗ chứ.

... Hắn gặp già Đô lần cuối cùng cạnh đống rác gần cửa nhà hát...".

Trên đây là tóm lược nhân vật "già Đô". Nhân vật này, khi đọc lại vẫn cho tôi nhiều cảm xúc. Già mất năm nào, anh Tấn cũng không hề biết.
Thương cho một con người, một số phận! Cũng như "hắn" – Tuấn:
“…Luận giải thế nào về “bản mệnh” của anh từng nếm trải trong suốt 5 năm tù tội mà bản thân “đi” tìm mãi vẫn không thấy “tội”, chỉ thấy “tội nghiệp” cho một kiếp người!...”.

*

Có lần hai anh em ngồi trò chuyện, tôi hỏi kỹ về nhân vật "già Đô". Anh nói: "Đây là cuốn hồi ký, thể loại mà các nhân vật phải có địa chỉ cụ thể, con người cụ thể. Các sự việc phải chính xác mà không thể hư cấu. "Chuyện kể năm 2000", mình viết từ 6-1990, viết một lèo đến 11-1991 thì xong. Tới cuối năm 1997 thì hoàn chỉnh bản thảo.
Đây là một cuốn tiểu thuyết mang đậm chất tự sự. Nó in dấu ấn cuộc đời mình, gần như không thêm bớt, nhưng nhiều nhân vật trong đó là sự tổng hợp các mẫu người khác nhau. Chẳng hạn như già Đô, một nhân vật khá thành công của mình là tổng hợp của nhiều ông già trong tù và ngoài đời, trong đó có cả triết gia Trần Đức Thảo. Tuy nhiên khi viết, mình vẫn phải giữ nguyên tên già Đô, một ông già có tên thật. Nếu đổi tên khác thì mình không thể viết được...".

Khép lại bài viết: "Thăm Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, hỏi già Đô". Tôi xuống thăm anh chị, được đọc cho anh nghe bản thảo. Anh nói:
“Phải quý mến vợ chồng mình lắm, Dư mới nhớ những câu chuyện mình viết cách nay đã 15 năm. Nay mới viết. Nghe Dư đọc xong mình rất cảm động, nhất là đoạn ngắn vừa đọc xong, mình tâm đắc!”.
Nghe anh nói vậy, tôi cũng tạm hài lòng về bài viết đã trình anh.

Sắp tới ngày giỗ đầu anh, 27-10 Ất Mùi, em xin thắp một nén tâm nhang này tưởng nhớ anh. Cầu mong anh được an bình nơi chín suối, thanh thản bay, bay cao, bay mãi !...

HOÀNG VĂN
Láng Hạ, 2014, 10-2015



***



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét